Hoàng Đế nội kinh (Quyển II)

Thông tin và link:Hoàng Đế nội kinh (Quyển II)

eBook Hoàng Đế nội kinh (Quyển II)

Đọc ngayTải về

Khi tôi muốn rõ sự thật là thế nào, thì tự tôi phải khám phá, phải tìm học, không một ai có thể thay thế cho tôi. Đây là một định lý. Khi tôi muốn khám phá tất cả sự thật, là tôi phải khám phá chính con người của tôi trước nhất, thì công cuộc khám phá mới được chính xác. Đây quyết định là một định lý. Nếu tôi nghĩ áp dụng những cái máy vô tri chết cứng để khám phá cả một guồng máy linh thiêng biến hóa, thì tôi là thằng khờ. Nếu tôi không chấp nhận lý này thì làm sao tôi đọc được NỘI KINH?

C.N

Thiên 10 NGŨ TẠNG SANH THÀNH

Định nghĩa tên thiên

“Sanh” là cái khởi đầu của sanh, thuộc về nhân. “Thành” là cái kết quả đã hiện tướng của sanh, thuộc về quả. Tất cả vạn vật khi mới bắt đầu của sanh cơ đều từ khí dương, từ cái không, cái thuộc về khí, mà khi đã thành hình, tức là kết thành ở có, ở chất, ở tướng, ở âm. Vì lý do này nên khi được cấu kết thành tạng phủ trong con người, sự ứng hiện ra bên ngoài cũng có hai hệ thống khác nhau là khí sắc và mạch lạc, để cho chúng ta có thể theo đó mà nghiệm biết được cái thường cái biến của tạng phủ bên trong.

Điểm chú trọng của toàn thiên này đều quy về sắc và mạch, vì lẽ đó mà có tên thiên là “Ngũ Tạng Sanh Thành”.

BÌNH

Những điều kiện ấn định cho một cuộc sống không ngoài thọ bẫm, khí hậu, hoàn cảnh, ăn uống, sinh hoạt và tâm tư; mà cuộc sống khổ hay vui hoàn toàn y cứ vào một điểm thông đạt hay không thông đạt.

Toàn thiên này đều gói tròn vào nhân sự, vào con người, vào xác thân, ăn uống, sinh hoạt, bệnh tật, sắc, mạch và sống chết để nối tiếp với thiên trước; hầu mở lối cho một nhãn quan kiểm soát thấu suốt cho tất cả những thiên sau.

Trong một thế hệ mà tất cả loài người đều bị chìm đắm hôn mê vào trong cái biển sóng dậy ba đào của vật chất năm châu họp chợ, cơ hồ như không còn được mấy ai còn đủ bình tĩnh sáng suốt để kiểm soát phán quyết về tất cả những cái gì nó đến với mình, dù cho tất cả những ông thầy thuốc, những nhà tu hành, các vị thiền sư rất có thiện chí cũng khó có một định hướng bình tĩnh vững vàng để gọi là cưỡi kình ngao du trong bể khổ là lại sao?

Như tôi đã từng nói: Nếu tôi chưa thiệt biết rõ ràng về chính con người của tôi, thì tôi chỉ là một sinh vật để “bị”; mặc dù tôi chỉ thiếu sót về phương diện cơ thể, ăn uống, sinh hoạt mà thôi. Thế mới biết: một tinh thần thoát tục của thời đại Toàn cầu Hóa hiện nay với tinh thần thoát tục của một thế hệ đâu biết đó tận tự xa xưa phải khác nhau nhiều lắm!

Tìm học về con người, tức là tìm học về chính con người của mình. Tìm học về vấn đề ăn uống, sinh hoạt của con người, tức là tìm học về lý do không có lối thoát của con người trong thời đại hiện nay. – Ngài có muốn chết chìm trong lượn sóng vật chất không?! Nếu ngài không muốn, xin mời hãy đọc kỹ thiên này.

ĐOẠN 1

PHIÊN ÂM

Tâm chi hợp mạch dã, kỳ vinh sắc dã, kỳ chủ thận dã. Phế chi hợp bì dã, kỳ vinh mao dã, kỳ chủ tâm dã. Can chi hợp cân dã, kỳ vinh trảo dã, kỳ chủ phế dã. Tỳ chi hợp nhục dã, kỳ vinh thần dã, kỳ chủ can dã. Thận chi hợp cốt dã, kỳ vinh phát dã, kỳ chủ tỳ dã.

DỊCH

Thành phần của xác thân bên ngoài hợp với tạng Tim là mạch, sự vinh nhuận hiện ra ngoài của tạng Tim là khí sắc, tạng để giữ thế quân bình cho tạng Tim là tạng Thận.

Thành phần của xác thân bên ngoài hợp với tạng Phổi là da, sự vinh nhuận hiện ra ngoài của tạng Phổi là lông, tạng để giữ thế quân bình cho tạng Phổi là tạng Tim.

Thành phần của xác thân bên ngoài hợp với tạng Gan là gân, sự vinh nhuận hiện ra ngoài của tạng Gan là móng, tạng để giữ thế quân bình cho tạng Gan là Phổi.

Thành phần của xác thân bên ngoài hợp với tạng Tỳ là bắp thịt, sự vinh nhuận hiện ra ngoài của tạng Tỳ là môi, tạng để giữ thế quân bình cho tạng Tỳ là tạng Gan.

Thành phần của xác thân bên ngoài hợp với tạng Thận là xương, sự vinh nhuận hiện ra ngoài của tạng Thận là tóc, tạng để giữ thế quân bình cho tạng Thận là tạng Tỳ.

GIẢI

Tại sao cả thiên này không nêu lên thể tài hỏi đáp, mà lại đi thẳng vào thành phần cơ thể con người? Thế là trọn cả thiên này là cái trớn nhân sự của thiên trước còn đang diễn tiếp, mà đoạn này là hệ thống hóa 5 hành trong cơ thể con người, và nhắc lại thế chế hóa của 5 hành, để hiểu rõ nghĩa bên ngoài nhìn thấy như là trái nhau, nhưng sự thật bên trong chỉ là giúp nhau để quân bình tồn tại vậy.

Tạng Tim là nguồn cội động cơ bơm máu bên trong của mạch. Mạch là cơ cấu để phân bổ máu ra khắp châu thân bên ngoài của Tim. Thiếu Tim mạch không động được, thiếu mạch máu không thể truyền đi. Thế là tạng Tim là tim của tạng phủ, mà mạch là tim của xác thân. Xác thân theo hệ thống của tạng phủ, xác thân với tạng phủ vốn phải vừa trật tự tương quan mà cũng vừa đồng nhất, dù mỗi một thành phần cực nhỏ trong cơ thể như một tế bào chẳng hạn, cũng đều phải có đủ cả cơ cấu của tạng phủ mắc liền cho khí huyết giao hòa mới có sự sống, mới có tồn tại. Bởi vậy trong khắp châu thân, nếu có một nơi nào hệ thống mạch máu bị đình đốn bế tắc, là quyết định cả bộ tuần hoàn của máu có bị mất bình thường.

Đã là nguồn cội của sự sống, là cơ cấu nền tảng của tinh thần, mà cũng là mặt trời ở trong thân. Cho nên tạng Tim không những thuộc Hỏa, mà còn là màu đỏ. Vì thế mà chỗ nào có mạch máu lưu thông đến, là chỗ đó có khí tượng hồng hào. Cho nên nói: “Thành phần của xác thân bên ngoài hợp với tạng Tim là mạch, sự vinh nhuận hiện ra ngoài là khí sắc”.

Đã thuộc về tinh thần, thuộc về khí sắc, lẽ tất nhiên chỗ vinh nhuận dễ thấy nhất là ở khuôn mặt. Vì thế người ta gọi khuôn mặt là cửa tinh thần.

Thiếu than thiếu củi thì lửa không thể tồn tại; nhưng thiếu hơi nước, thiếu khí dưỡng lửa cũng khó kéo dài, điều này người ta khó thấy. Nhưng nếu trong những đêm sương mù dày đặc, có đốt lửa giữa trời rồi ta mới thấy điều này thật là rõ rệt.

Tạng Tim là lửa, tạng Gan là củi, tạng Thận là nước, như thế đủ biết tạng Gan vốn giúp cho tạng Tim được nối tiếp đã đành, nhưng nếu thiếu tạng Thận cũng không thể giữ thế quân bình cho tạng Tim được. Cho nên mới nói: “Tạng để giúp thế quân bình cho Tim là Thận” thật là chí lý.

Tạng Phổi là tạng nằm trên hết các tạng, cấu tạo bằng loại tế bào da, là cơ cấu bộng xốp có đủ sức co giãn, là động cơ chính yếu trong bộ máy bơm hơi, mà cũng vừa là cái ống khói cho 5 tạng, là cái nón bằng hơi úp trên tạng Tim, là cái hốc núi để cho tạng Tim cư ngụ, là vườn hoa trời bên nước Cực Lạc của Tịnh độ Phật giáo, là cửa để cho khí dưỡng đi vào tạng phủ và khí thán của tạng phủ đi ra, bên trên thông đồng với mũi miệng.

Toàn thân con người có hai thứ da: bên ngoài là cả mặt da toàn thân; bên trong: da trong mũi, trong miệng, trong mắt, trong cổ họng, phía trong bộ tiêu hóa, trong hông sườn, trong Bàng quang, trong bộ sinh dục, trong tử cung v.v. nghĩa là tất cả mặt da trong cũng đều là da.

Mặt da bên trong của cơ cấu tạng Phổi cũng như toàn cả mặt da bên ngoài, đều là những nơi để thâu hút khí dưỡng vào và thở khí thán ra; còn ngoài ra mặt da của tất cả các nơi khác bên trong cơ thể đều tùy theo mỗi nơi để vừa thở khí thán trược của 5 tạng ra, mà cũng vừa là để thâu hút tất cả các chất tiếp dưỡng vào trong nội tạng tùy theo cơ cấu của mỗi nơi mà đều có giá trị khác nhau. Mỗi khi Phổi hít khí dưỡng vào, thì toàn cả mặt da đều thở khí thán ra (mặt da ngoài thì thở ra, còn mặt da trong thì hít vào). Mỗi khi Phổi thở khí thán ra, thì toàn cả mặt da bên ngoài hút khí dưỡng vào; trái lại toàn cả mặt da bên trong lại là thâu hút chất dưỡng, chớ không phải thâu hút khí dưỡng như mặt da bên ngoài. Do đó mà ta thấy được nếu động cơ hô hấp ở Phổi đình đốn, là toàn cả bộ máy thâu hút mặt da khắp châu thân đều tê liệt. Bởi vậy cơ hít vào thuộc về đàng mũi, chiều nặng ở Phổi đi vào 5 tạng; cơ thở ra thuộc về đàng miệng, chiều nặng ở Vị ra từ sáu phủ. Thế là khắp mặt da trong cũng như da ngoài toàn thân con người đều có Phổi, cũng như đều có mũi miệng. Nhờ định luật này mà ta thấy được ở mặt da hễ có một lỗ chân lông dương (mở ra) là có một lỗ chân lông âm (mở vào), như là một cơ cấu nắp hơi (soupape), để ta có thể kiến thiết một nền tảng vững chãi cho tất cả hệ thống bệnh ngoại cảm của con người. Đó là nghĩa: “thành phần của xác thân bên ngoài hợp với tạng Phổi là da và sự vinh nhuận hiện ra ngoài là lông”. Như thế ta đủ biết mỗi khi một vùng mặt da nào đó bị mất khả năng thở hút, thì quyết định toàn cả cơ cấu hô hấp của Phổi phải có một phần bị mất bình thường. Nếu ta không thấy được như thế, thì ta sẽ không thấy được trọn vẹn công năng hô hấp.

Tạng Phổi thâu hút khí thanh, khí dưỡng, tạng Tim sinh khí nhiệt, khí khinh. Thiếu tạng Phổi, tạng Tim sẽ thiếu khí thanh mát tiếp dưỡng; thiếu tạng Tim, tạng Phổi sẽ dễ bị áp lực của khí lạnh bên ngoài. Phương chi thiếu khí nhiệt, khí khinh thì khí thanh, khí dưỡng không thể ngưng tụ thành nước được, thì làm sao mà Kim sanh Thủy cho được? Cho nên mới nói: “Tạng để giúp thế quân bình cho Phổi là Tim” vậy.

Tạng Gan vốn là khu rừng cây cổ thụ để hứng lấy sự xung động của gió máy bên ngoài, là tạng có nhiều tổ chức gân, bên trên dính liền với tổ chức Bọc Tim cũng là gân, bên dưới dính liền với tổ chức cuống Thận dương; là nơi chứa giữ khí thán trược của hột máu đen đưa về để chế hóa thành một thứ vị đắng, một thứ chất xanh lá cho buồng Mật, mà cũng là nơi thâu nhận cả vị ngọt, vị chua. Đối với hệ thống thần kinh, tạng Gan thuộc về cơ cấu quan hệ với phần thần kinh động tác, phần óc nhỏ phía sau. Bên trong nó là nguồn cội của tất cả hệ thống Tam tiêu, để hệ thống Tam tiêu bên ngoài mắc liền với tất cả hệ thống thuộc về gân của các khớp, thuộc về màng bao bắp thịt và tất cả các lớp bầy nhầy trong khắp châu thân để làm nền tảng cho mọi hoạt động. Nên chi khi tạng Gan sút kém, thì sức mạnh gân lực cũng theo đó mà sút kém; khi tạng Gan được sung túc mạnh mẽ, thì sức mạnh của gân lực cũng theo đó mà tăng cường; khi Gan bị biến động bằng cách giãn lơi, thì hệ thống gân lực toàn thân cũng bị co rút; khi Gan bị biến động bằng cách giãn lơi, thì hệ thống gân lực toàn thân cũng bị dãn lơi; Gan se thắt lại thì toàn thân gân lực cũng bị se thắt lại; khi Gan bị trương nở thì toàn thân gân lực cũng bị trương nở; khi Gan được tươi nhuận, thì toàn cả móng tay móng chân đều hiện tướng tươi nhuận; nếu Gan bị ngưng kết, thì móng cũng hiện tướng ngưng kết. Đây chính là nghĩa “thành phần xác thân bên ngoài hợp với tạng Gan là gân và sự vinh nhuận hiện ra ngoài là móng”.

Tạng Gan vốn là tạng súc tích nhiều khí thán trược mà thuộc Mộc. Tạng Phổi vốn là ống khói chung của 5 tạng, mà cũng là nơi thâu hút khí thanh mát, khí dưỡng và là thuộc Kim. Nếu thiếu tạng Phổi, không những hơi nước bốc lên không lấy đâu để ngưng đọng mà rơi xuống, lại cũng không lấy đâu để mà xả bớt khí thán trược ra ngoài, thì rồi toàn cả hệ thống máu huyết khắp châu thân đều sẽ biến thành than khói ngưng đặc, mà bản thân tạng Gan cũng đến chết mất. Cho nên mới nói: “Tạng để giữ thế quân bình cho Gan là Phổi” vậy.

Tỳ là tạng chính nó có vị ngọt, là cơ cấu thu nhiếp đường và dầu, là tạng chuyển đưa lương thực. Thuận dòng tương sanh, bên trên trực tiếp với tạng Phổi; thuận dòng tương khắc, bên dưới xuống đến Thận dương kết đúc thành chất tan trong dầu (cortine), để làm thành thế quân bình cho tạng Thận. Bên trong theo hệ thống Tam tiêu mà dính liền với mỡ sa, mỡ chài (thuộc loại dầu). Bên ngoài theo luật khí hóa và tác dụng của năng lực kinh mạch, để nối liền với tất cả các bắp thịt âm (tức là bắp thịt nạc mét), và gián tiếp nối liền với tất cả các bắp thịt dương (thịt nạc đỏ). Nên chi khi tạng Tỳ thiếu tiếp tế về đường và dầu, thì toàn cả hệ thống thịt nạc thịt mỡ đều bị thiếu kém. Khi tạng Tỳ bị biến động, thì tất cả bắp thịt toàn thân cũng bị biến động theo. Khi tạng Tỳ được tươi nhuận khỏe mạnh, thì khí sắc quanh môi cũng được tươi nhuận. Khi tạng Tỳ có biến động yếu đau thì khí sắc quanh môi cũng kém mất vẻ thắm tươi. Do đó nên mới nói: “Thành phần xác thân bên ngoài hợp với Tỳ là bắp thịt, và sự vinh nhuận hiện ra ngoài là môi”.

Vốn đã là cơ cấu thu nhiếp vị ngọt và vị béo, là nền tảng của khí thấp (khí đạm) thuộc Thổ, là tạng chí âm; để đối lại với tạng Gan là tạng thuộc Mộc chuyên thu nhiếp khí thán trược, để sản xuất ra vị đắng, ra nước Mật, hầu quân bình và làm ráo bớt thế ẩm thấp của tạng Tỳ sản xuất ra. Nên chi khi tạng Gan bị suy yếu hoặc gặp niên vận làm cho tạng Gan suy yếu, thì sự hoạt động thừa của tạng Tỳ không những làm tổn hại đến Gan, biến động đến toàn cả các bắp thịt trong châu thân, mà còn nguy ngập đến chính tạng Tỳ nữa. Cho nên nói: “Tạng để giúp thế quân bình cho Tỳ là Gan” vậy.

Tạng Thận đối với 5 tạng tựa hồ củ trối (củ lớn chính) của toàn thân cây, là nơi quy tụ tất cả khí tinh hoa trong tạng phủ đi theo hai hệ thống dầu và nước, để tinh luyện mà đưa vào bồi bổ cho toàn cả hệ thống tủy xương và cơ quan sinh dục. Nên chi khi sinh cơ của toàn bộ tạng Thận bị đình đốn biến động, thì hệ thống của tủy và xương bên ngoài cũng đều bị liên lụy theo. Thí dụ như: khi bị gãy xương mà tạng Thận lại tê liệt không đủ khí dương, thì xương dễ xảy ra thúi mục; cũng như khi tạng Thận bạc nhược, thì toàn cả cơ cấu của hệ thống xương cũng đều bạc nhược theo. Bởi vậy trẻ con khi mới sanh ra, nếu thọ bẫm ở cha mẹ tạng Thận yếu quá, thì tất cả hệ thống xương sẽ bị chậm phát triển, răng chậm mọc, chậm biết đi, tính tình cũng theo đó mà yếu hèn hơn. Cho nên biết được: “Thành phần xác thân bên ngoài hợp với tạng Thận là xương”.

Tất cả tủy xương đều chầu về óc, óc đựng trong xương sọ. Đầu là phần trên cao nhất, là nơi tiếp xúc với sức phản chiếu của bao la nhiều nhất. Óc là nguồn cội của hệ thống thần kinh, là nơi xuất phát thấynghehaybiết, lẽ tất nhiên phải xảy ra ý thức bảo vệ mà nảy sanh ra tóc. Vì thế mà mái tóc của mỗi người cũng chẳng có ai giống ai. Cho nên nói: “Sự vinh nhuận hiện ra ngoài của Thận là tóc”.

Đã là tạng thuộc Thuỷ và tác dụng cũng thuộc về nước. Nước thiếu đất sẽ không hiện rõ tác dụng, phải có đất nước mới có chỗ chứa giữ, mới có thể tạo thành thế ẩm ướt. Vì thế mà phần Thận dương có ٢ phần: phần tan trong nước bắt hệ thống theo phía trái mà thông đồng lên tận đến Tim, để làm thành tác dụng lưu thông; phần tan trong dầu bắt hệ thống theo phía phải, thông đồng với tạng Tỳ mà lên tận đến Phổi, để tạo thành cái thế chứa giữ nghịch lại, nhờ công năng này mà tác dụng của Thận được hiển rõ. Bởi vậy nếu thử cho chất tan trong nước hiện vọt lên một mức tột bậc cao, thì tạng Tim sẽ bị đập loạn xạ dữ dội, tạng Thận sẽ bị gồng thắt mạnh và con người sẽ bị hốc hác đi. Ngược tại nếu thử cho chất tan trong dầu vọt lên một mức thật cao, thì tạng Tim sẽ bị đập chậm lại, tạng Thận sẽ mất tác dụng gồng bóp và con người sẽ biến ra màu vàng âm. Chất tan trong dầu vốn là cơ cấu của tạng Tỳ ở Thận, lại có tác dụng ngược lại với chất tan trong nước. Lại thêm nếu vắng mặt chất tan trong dầu, thì toàn cả năng lực của hệ thống Thận và tủy xương khắp châu thân đều mất tác dụng. Do đó nên mới nói: “Tạng để giúp thế quân bình cho Thận là Tỳ” vậy.

Có người hỏi: Tại sao phải thế quân bình của tạng Tim là tạng Thận v.v., mà không là một tạng nào khác? – Đáp: Nếu một người có cái nhìn từ cái cực lớn suốt vào cái cực nhỏ, và thâm nhập vào chính con người của mình một cách có trật tự lớp lang thì sẽ thấy không thể nói khác hơn được. Vậy xin mời ngài hãy đọc kỹ lại tất cả thì sẽ rõ suốt.

BÌNH

Nói: tạng phủ có trước, xác thân có sau; tạng phủ là gốc, tất cả thành phần bên ngoài của xác thân là ngọn; Tim có trước, óc có sau; cảm giác có trước, phân biệt tính toán có sau, thì tôi dám chắc rằng: không một nhà phôi thai học nào, một bác sĩ nào cũng như một nhà khoa học nào hiện đại mà không chấp nhận. Nhưng, lạ thay! Không biết tại sao lại đến khi nhập vào cuộc sống hằng ngày, người ta lại chỉ hoàn toàn tôn thờ ở phần ngọn phần trí óc tính toán, phần xác thân bên ngoài, mà người ta hoàn toàn quên phứt phần nguồn cội bên trong, làm như cây không cần thân với gốc, chỉ phần ngọn không cũng vẫn tồn tại được vậy.

Cũng như nếu tôi nói: thiếu nước thì lửa không thể thành lập; thiếu màu đen, màu trắng không thể thành lập; thiếu chúng sanh, Phật không thể thành lập. Trừ tất cả những cái không phải là tôi đi, thì cái tôi cũng không thể thành lập, thì quyết định tất cả những hàng trí thức không ai mà không chấp nhận. Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là đã có cái một là hiện hữu tất cả. Thế nhưng tại sao khi nhập cuộc vào dòng cuộc sống, thì gần như hầu hết những hàng trí thức trong lòng đều sẵn một mầm mống bài trừ kẻ khác, làm như là đừng có vũ trụ, một mình tôi cũng tồn tại được vậy. Như thế phải chăng là bởi loài người là một giống thú dẫn đầu bậc nhất trong muôn thú, mà thú tính luôn luôn lớn hơn các loài vật khác?! Hay bởi cái máytôi chưa được chỉnh đốn trước, mà vội thu nhiếp vô số kiến thức bên ngoài vào để trở thành một thứ ngu hiểu biết của hệ thống chổng đầu nhảy chang cháng chăng?! Có người nói: “Vật có gốc ngọn, việc có trước sau, biết được phần nào trước để làm trước, phần nào sau làm sau, tức là gần với Đạo vậy”. Thế mới biết: khi bị cái Tôi nó bịt mắt rắc tiêu rồi, thì không chỉ là trước đây 5-6 ngàn năm hay ở ngay thời đại nguyên tử này; hoặc thật giàu kiến thức hay rất nghèo nàn cũng không vì thế mà thoát vòng ngu muội.

ĐOẠN 2

PHIÊN ÂM

Thị cố đa thực hàm, tắc mạch ngưng lịch nhi sắc biến. Đa thực khổ, tắc bì cao nhi mao bạt. Đa thực tân, tắc cân cấp nhi trảo khô. Đa thực toan, tắc nhục chi sô nhi thần yết. Đa thực cam, tắc cốt thống nhi phát lạc. Thử ngũ vị chi sở thương dã.

DỊCH

Cho nên nếu ăn nhiều mặn quá, thì mạch bị ngưng rít làm cho sắc biến đen. Ăn nhiều đắng quá, thì da khô lông rụng. Ăn nhiều cay quá, thì gân co và móng khô. Ăn nhiều chua quá, thì bắp thịt nứt nẻ và môi trớt. Ăn nhiều ngọt quá, thì xương đau tóc rụng. Đó là vì 5 vị thái quá làm tổn hại vậy.

GIẢI

Điểm chú trọng của đoạn này là nối tiếp với đoạn trên, để nói lên do sự ăn uống lạm dụng 5 vị thái quá, làm xâm phạm vào thế quân bình tương khắc của 5 hành theo hệ thống sở thuộc của 5 tạng, mà gây thành những hiện tượng tổn thương.

Đoạn trên đã trình bày về gốc ngọn theo hệ thống sở thuộc và thế quân bình khắc chế của ٥ hành trong cơ thể con người rồi và cũng tiếp theohệ thống ấy mà đi sâu vào 5 vị ăn uống, nên nối tiếp bằng chữ “cho nên”.

Vị mặn với tạng Thận đều thuộc về hành Thủy. Nếu ta cắt máu cho vào trong chén để qua vài ba tiếng đồng hồ, trước tiên ta sẽ thấy chia ra hai phần: phần máu đỏ đóng dề lại và phần nước vàng. Nếu ta đem phần máu đỏ mà luộc trong nước sôi trải qua mấy tiếng đồng hồ. Rồi ta ăn thử thì sẽ thấy hiện rõ chất chát; còn phần nước vàng ta đem hấp cách thuỷ, sẽ thấy cũng phân ra làm hai phần: một phần như lòng trắng trứng loãng chín lại, một phần nước trong, cả hai đều có vị mặn. Phần chát thuộc về phần máu đỏ, phần như lòng trắng trứng thuộc về phần máu trắng, phần nước thuộc về phần nước máu có chứa nhiều chất muối; cả ba đều có thế quân bình của nó. Phần máu trắng và nước muối thuộc về hệ thống tạng Thận, phần máu đỏ thuộc về hệ thống tạng Tim.

Nếu ta ăn nhiều vị mặn quá, máu bị thu nạp nhiều muối, làm cho máu không đủ để pha loãng; do đó mà xảy ra hiện tượng mạch ngưng rít, sắc mặt biến đen và khát nước, như thế nghĩa là sao? Nghĩa là trên cảm giác tự động đã báo động lên một thế biến và đòi hỏi trả lại sự quân bình. Cho nên biết: chánh văn nói “cho nên ăn nhiều của mặn quá, thì mạch bị ngưng rít làm cho sắc biến đen”; cũng là một cách nói tuy biết tạng Thận là một tạng để làm quân bình cho tạng Tim, nhưng nếu sự quân bình ấy thái quá, rồi cũng trở nên là một thứ làm mất quân bình mà thôi. Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là sửa quá hóa ra không ngay.

Nói vị đắng là vị thuộc Hỏa, là ý nói vị đắng có ảnh hưởng thẳng vào tạng Tim và nó có tánh làm khô ráo, chớ không phải nói nghĩa nóng lạnh. Bởi vậy tất cả những món thuốc có vị thuần đắng, khi được bào chế khô rồi đem cất rất lâu hư và rất ít bị sâu mọt. Thí dụ như Huỳnh liên, Huỳnh bá chẳng hạn. Do đó nên khi ta ăn nhiều vị đắng quá, thì trước nhất Tim Phổi ta bị ráo và những mạch hệ thống các chất thấm nhuần ở mặt da đều bị se thắt co rút lại, làm cho lông ở mặt da mất nuôi dưỡng trở nên dễ rụng. Cho nên mới nói: “Khi ăn nhiều vị đắng quá thì da khô lông rụng”. Nói như thế, cũng như nói tuy biết rằng tạng Tim là tạng giúp thế quân bình cho Phổi, nhưng nếu thế quân bình ấy quá trớn thì lại cũng là một thứ phá hoại thế quân bình vậy.

Vị cay thuộc Kim, tánh hay phát tán, nhưng vị cay ta ăn hằng ngày phần nhiều là cay nóng. Ngoài sức phát tán ra, còn làm tăng thêm sức kích thích bồng bột. Những người vì thói quen hồi tuổi trẻ ăn nhiều vị cay nóng quá, tiêm nhiễm vào Gan, lâu năm chầy tháng, đến khi tuổi lớn có sanh bệnh tật thường xảy ra triệu chứng gân co, hoặc run giật, hoặc chuyển lắc, không giữ được thế quân bình và móng tay móng chân cũng mất vẻ tươi nhuận. Vì thế mới nói: “Ăn nhiều vị cay quá làm cho gân co và móng khô”. Đây cũng là một cách nói khác rằng: dù tạng Phổi, là tạng để giúp thế quân bình cho tạng Gan, nhưng khi thế quân bình ấy quá trớn, thì cũng là một thứ đổ vỡ thế quân bình.

Vị chua là vị đi về với Gan, thuộc Mộc, tánh nó lại thu liễm. Mỗi khi ta ăn vào là hạch nước miếng bị kích thích ứa ra nhiều chất nước miếng để ứng hợp với nó. Nếu ta cứ thường thường tái diễn như thế mãi, thì chất nước miếng ấy càng ngày càng bị rơi nhiều xuống bộ tiêu hóa cộng với vị chua mà dẫn xuống đường tiểu tiện. Vì thế mà tạng Tỳ càng ngày càng suy yếu, bắp thịt càng ngày càng co rút cằn cỗi, nên môi hiện ra tướng trớt. Cho nên mới nói: “Ăn nhiều vị chua quá thì bắp thịt nứt nẻ và môi trớt”. Đây cũng là một cách nói tuy tạng Gan là tạng để giữ thế quân bình cho tạng Tỳ, nhưng nếu thế quân bình ấy thái quá, thì lại cũng là một thứ mất quân bình.

Vị ngọt vốn là vị của Tỳ, thuộc Thổ. Tạng Tỳ là tạng để giữ khí thấp cho cơ thể, nhưng nếu vì một lẽ gì mà tạng Tỳ sanh hoạt động thừa cao hơn các tạng khác, lẽ tất nhiên sức hoạt động thừa ấy sẽ ảnh hưởng vào tạng Thận, làm cho sức gồng bóp của tạng Thận bị suy giảm, mà tác dụng lọc nước cũng bị mất bình thường, và tất cả xương cốt đều trở nên nặng nề đau nhức, lại thêm xảy ra hiện tượng tóc rụng. Bởi lẽ này nên hầu hết những người bị bệnh thấp ôn nặng (đau ban trắng, có người gọi là đau ban cua), sau khi khỏi rồi, nếu thiếu hiểu biết về sự ăn uống thì đều xảy ra triệu chứng rụng tóc. Vì thế nên khi ta ăn nhiều vị ngọt quá, tất có hiện tượng xương đau tóc rụng. Đây cũng là một cách nói tuy biết tạng Tỳ là tạng giúp thế quân bình cho tạng Thận, nhưng khi thế quân bình ấy lên quá cao làm cho mất quân bình.

Thế là trọn cả đoạn này luận giả muốn nói: Trong cơ thể sinh lý cũng như trong vật lý, trong ăn uống cũng đều có đủ hiện tượng tương sanh tương khắc của 5 hành. Và cả thế tương sanh tương khắc nếu ta biết áp dụng, thì đều là công năng để giữ cho thế quân bình. Nhược bằng ta dốt nát mà không biết sử dụng, thì thế để giữ cho được quân bình cũng sẽ biến thành thế đổ vỡ vậy. Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là dù trong ăn uống nếu ta biết áp dụng thì tuy ở thế trái nhau, nhưng cũng là giúp nhau. Nếu ta không biết sử dụng, thì thế trái nhau ấy chính là thế tương khắc.

BÌNH

Ở thiên thứ 5 đoạn 11 có nói: “Ở trời là Huyền, ở người Đạo, ở đất là Hóa. Huyền sanh Thần, Đạo sanh Trí, Hóa sanh Vị v.v.”. Thế là ý luận giả muốn nói: bộ mặt thật của bao la này thấu suốt hiện tượng, vốn nó không là gì, không có tên tuổi, mà từ khi có con người mới nhìn thấy ra 3 chiều hướng: một là linh quang hồi tụ, hai là linh giác viên thông, ba là phản chiếu biến hóa. Rồi từ 3 chiều hướng ấy, mà con người nhìn thấy ra ba hệ thống hiện tượng là từ linh quang hồi tụ mà hiện ra linh diệu nhiệm mầu nên gọi là thần; từ linh giác viên thông mà hiện ra trí óc phân biệt nên gọi là trí; và từ phản chiếu biến hóa mà hiện ra 5 vị vật chất nên gọi là vị. Cho nên nói: Huyền sanh thần, Đạo sanh Trí, Hóa sanh 5 vị. Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là thần, trí với vị vốn không khác, mà cả 3 đều xuất phát từ một nguồn cội chưa hề có tên tuổi.

Đến thiên thứ ٩ đoạn ٧ lại nói: “Trời nuôi người bằng ٥ khí, đất nuôi người bằng ٥ vị. Khí đi vào bằng đường mũi, vị đi vào bằng đường miệng. Cả hai hệ thống sau khi được tinh luyện vào đến ٥ tạng gặp nhau mà hợp để tiếp dưỡng cho khí của ٥ tạng, nhờ đó mà tinh thần được nối tiếp”. Như thế nghĩa là sao? – Nghĩa là trong chỗ không lời luận giả muốn nói trên hệ thống dọc con người vốn có tổ tông, nhưng theo hệ thống ngang mà nhìn thì con người là một tác phẩm hun đúc bởi trời đất âm dương biến hóa xoay vần trong vòm linh không vô cực. Và nhìn vào con người thấy hình như có ٢ hiện tượng tinh thần và vật chất khác nhau. Nhưng nhìn sâu vào ٢ hệ thống tiếp dưỡng và quán xuyến đến thiên thứ ٥, thì ta mới thấy đây là một lần nữa để nhắc lại một cách khác về thần, trí với vị vốn không riêng, và cả bao la này chỉ một lò biến hóa.

Đến đoạn này lại là đoạn nối tiếp với đoạn trên để nói lên luật chế hóa của ٥ hành trong ٥ vị, mà thái quá về bên này thì bất cập sẽ về bên kia, thái quá bên kia thì bất cập sẽ về bên này. Thái quá hay bất cập cũng đều là hiện tượng mất quân bình, và nếu là mất quân bình thì tuy có hiện tượng trái nhau cũng là một cách để giữ vững cho thế quân bình; và mặc dù sự mất quân bình ấy chỉ từ ٥ vị, nhưng kết quả của ảnh hưởng dù cho về mặt tâm lý, vật lý hay sinh lý cũng bị ảnh hưởng như nhau. Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là trong chỗ không lời luận giả muốn nói: nếu ai hiểu rằng tâm với vật vốn là hai thứ riêng biệt không dính dấp gì nhau, mà xem thường sự ăn uống hằng ngày thì kể như người đó chưa hiểu gì hết, và trong vô tình hằng ngày chỉ là một sinh vật buông trôi theo sự biến hóa của vật chất và dục vọng mà thôi chớ không phải là hạng người thông đạt.

ĐOẠN 3

PHIÊN ÂM

Cố Tâm dục khổ, Phế dục tân, Can dục toan, Tỳ dục cam, Thận dục hàm. Thử ngũ vị chi sở hợp, ngũ tạng chi khí dã.

DỊCH

Cho nên Tim chỉ thích đắng, Phổi thích cay, Gan thích chua, Tỳ thích ngọt, Thận thích mặn. Đó là chỗ thích hợp của 5 vị với khí của 5 tạng vậy.

GIẢI

Vẫn khởi đầu bằng chữ “cho nên”, thế là mạch văn vẫn đang tiếp tục. Đoạn trên thuần nói về 5 vị vì bị lạm dụng thái quá mà xâm phạm vào luật khắc chế của 5 hành trong hệ thống 5 tạng, để lại kết quả hiện tượng tai hại. Đến đoạn nầy chỉ thuần nói về một mặt sở thích của 5 tạng đối với 5 vị. Thế là ý luận giả muốn nói: Biết rằng tác dụng của 5 vị đối với 5 tạng, hễ lạm dụng thái quá sanh ra khắc chế tổn thương. Tuy nhiên không thể vì thế mà con người phải bài trừ sự ăn uống, cuộc sống quý hồ ở làm sao cho ứng hợp với lẽ đồng nhất tương quan trật tự biến hóa lưu thông, hầu cho thế quân bình của cuộc sống không bị xâm phạm mà đổ vỡ là thượng sách.

BÌNH

Một ông thầy đồ Nghệ dạy chữ Nho cho mấy cậu ấm miền Nam. Lần đầu tiên cụ đồ khai tâm: “mộn lạ cựa”. Các cậu cũng dõng dạc nói theo: “mộn lạ cựa”. Cụ đồ đính chánh: “Tạ nọi mộn lạ cựa, cựa rạ cựa vộ”. Các cậu cũng dõng dạc tiếp: “mộn lạ cựa, cựa rạ cựa vộ”. Cụ đồ bắt đầu bực mình gắt giọng chỉ vào cánh cửa mà nói: “Tạ nọi mộn lạ cựa, cựa ni ni”. Các cậu cũng dõng dạc tiếp: “Mộn lạ cựa, cựa ni ni”. Cụ đồ tức quá quát: “Cựa cha cựa mẹ mi”, làm báo hại mấy cậu hoảng hốt ngơ ngác không hiểu thế nào bèn ngậm thinh trợn dọc.

Một cậu tú tài nọ nhân có bệnh đi đến bác sĩ. Bác sĩ dạy mỗi ngày phải uống nước lã từ 3 lít cho đến 4 lít càng tốt, nếu uống ít hơn thì sức khỏe không được bình thường. Bắt đầu từ đó câu nói của bác sĩ ấy trở thành một cây thước thần thánh. Thế rồi mỗi ngày anh ta cứ tiếp tục uống 3-4 lít nước lạnh, dù không khát không muốn uống cũng cố ráng mà uống, uống đến mang bệnh vì uống nước. Rồi một lúc nọ nhân đọc quyển sách gọi là Tân dưỡng sinh của Oshawa người Nhật bảo rằng: uống nước nhiều sanh bệnh, càng uống ít chừng nào càng hay; lại thêm bắt ăn cơm gạo lức với muối mè và cấm ăn đường. Thế rồi từ đó anh ta không dám uống nước nữa, lại còn cố ráng làm sao không uống chút nước nào càng hay, đến đỗi trở thành một thứ bệnh không uống nước. Thế mới biết: nếu chưa biết gì hết về chính con người của mình, cũng như không rõ tí nào về nghĩa trật tự tương quan biến hóa lưu thông, thì dù cho cố ráng để tìm lấy cái thế đúng mức quân bình chừng nào lại càng bị rơi vào trong cái hố làm giống làm theo để mà mất quân bình biến sanh đổ vỡ chừng nấy.

ĐOẠN 4

PHIÊN ÂM

Cố sắc kiến thanh như thảo tư giả tử, huỳnh như chỉ thiệt giả tử, hắc như thai giả tử, xích như phôi huyết giả tử, bạch như khô cốt giả tử, thử ngũ sắc chi kiến tử dã.

Thanh như thúy vũ giả sanh, xích như kê quan giả sanh, huỳnh như giải phúc giả sanh, bạch như thỉ cao giả sanh, hắc như ô vũ giả sanh, thử ngũ sắc chi kiến sanh dã.

DỊCH

Cho nên nếu khí sắc người bệnh mà hiện lên màu xanh như màu cỏ úa là chết, vàng như màu trái Chỉ thiệt là chết, đen như than khói là chết, đỏ như huyết đông là chết, trắng như xương khô là chết; đó là 5 sắc chết hiện.

Ngược lại nếu xanh như lông cánh chim Thúy là sống, đỏ như màu mồng gà trống là sống, vàng như màu vàng dưới bụng con cua bể là sống, trắng như màu mỡ heo là sống, đen như lông cánh quạ là sống; đó là 5 sắc sống hiện.

GIẢI

Cả đoạn này chỉ áp dụng phép so sánh để hiển rõ năm khí sắc sống hay chết, hầu đi sâu vào kỹ thuật khám phá con người. Trong bốn môn khám phá là nhìn, nghe, hỏi, khám, mà đây là phép thứ nhất. Thế mà khởi đầu vẫn dùng hai chữ “cho nên”, như thế không những vẫn là một mạch văn nối tiếp, mà hai chữ “cho nên” này gốc rễ của nó còn ăn sâu đến suốt thiên thứ 5 nữa. Điều này hết thảy người đọc rất nên lưu tâm.

Đã nêu ra ٥ sắc sống và ٥ sắc chết bằng cách mượn những vật bên ngoài để hình dung, mà trong đó có nói đến lông cánh chim Thúy là một thứ chim rất ít ai biết. Tuy nhiên nếu ta đừng mắc kẹt trong chữ và lời thì ta sẽ nhận ra ý luận giả muốn nói không ngoài tuy sắc nào thì sắc, nhưng hễ có thần, có khí tượng sống, có sinh lực, có mạch sống thấm nhuần tức là sắc sống. Nếu ngược lại, sắc không có thần, không có khí tượng sống, không có sinh lực, không có mạch sống thấm nhuần tức là sắc chết. Mà thí dụ rõ rệt nhất là mỡ heo và xương khô. Vậy mà luận giả vẫn còn chưa yên tâm, sợ e người nghe, người đọc mắc kẹt chết cứng vào chữ vào lời, nên dưới đây còn một đoạn nối tiếp để biện bạch đến chỗ nhập thần. Chúng ta hãy theo dõi.

ĐOẠN 5

PHIÊN ÂM

Sanh ư Tâm như dĩ cao khỏa châu, sanh ư Phế như dĩ cao khoả hồng, sanh ư Can như dĩ cao khỏa cam, sanh ư Tỳ như dĩ cao khỏa quát lâu, sanh ư Thận như dĩ cao khỏa tử, thử ngũ tạng sở sanh chi ngoại vinh dã.

DỊCH

Đối với tạng Tim khí sắc sống của nó là phải như lụa mịn bọc son; khí sắc sống của tạng Phổi là phải như lụa mịn bọc màu hường; khí sắc sống của tạng Gan là phải như lụa mịn bọc màu cam; khí sắc sống của tạng Tỳ là phải như lụa mịn bọc trái Qua lâu; khí sắc sống của tạng Thận là phải như lụa mịn bọc màu tím. Đây là khí sắc ánh ra ngoài của 5 tạng vậy.

CHÚ THÍCH

Trái Qua lâu: một loại dây bò như dây mướp, trái giống như trái mướp khía nhưng ngắn và to hơn mà khía cũng cạn hơn, là một vị thuốc trong thảo mộc. Đến khi chín cũng như trái mướp khía chín, da trái nó có màu vàng đất sậm hơn trái mướp khía.

GIẢI

Đọc lên đoạn nầy ta thấy tinh thần luận giả trong chỗ không lời cố ráng nói lên cho người nghe rằng: đỏ, trắng, xanh, vàng, đen, mặc dù là màu sắc của Tim, Phổi, Gan, Tỳ và Thận nhưng chớ nên mắc kẹt vào chữ và lời. Vì khí sắc của 5 sắc trong con người không phải như đỏ, trắng, xanh, vàng, đen mà mọi người thường thấy bên ngoài. Cho nên mới mượn lụa trắng mịn bọc 5 thứ vật chất của 5 màu, để hình dung khí sắc sống cho 5 tạng, hầu giúp cho đoạn trên được nhập thần. Đến đây ta mới thấy tinh thần của luận giả thật là chu đáo.

ĐOẠN 6

PHIÊN ÂM

Sắc vị đương ngũ tạng, bạch đương Phế tân, xích đương Tâm khổ, thanh đương Can toan, huỳnh đương Tỳ cam, hắc đương Thận hàm.

Cố bạch đương bì, xích đương mạch, thanh đương cân, huỳnh đương nhục, hắc đương cốt.

DỊCH

Hệ thống sắc và vị ráp với 5 tạng: màu trắng với vị cay theo hệ thống của Phổi; màu đỏ, vị đắng theo hệ thống của Tim; màu xanh, vị chua theo hệ thống của Gan; màu vàng, vị ngọt theo hệ thống của Tỳ; màu đen, vị mặn theo hệ thống của Thận.

Cho nên màu trắng thuộc về da, màu đỏ thuộc về mạch, màu xanh thuộc về gân, màu vàng thuộc về thịt, màu đen thuộc về xương.

GIẢI

Đây là một đoạn mắc liền với các đoạn trên tận đến đầu thiên, và dính liền với thiên thứ 9, thấu suốt đến thiên thứ 5, mà điểm chú trọng ở chỗ hệ thống hóa 5 hành từ: màu sắc khí vị của bên ngoài mắc liền vào hệ thống cơ thể mà vào sâu đến tạng phủ, hầu áp dụng sâu vào kỹ thuật; nếu không biết rõ thì không áp dụng được.

Giờ đây ta thử sắp lại một cách khác là ta tức khắc thấy ngay. Hệ thống của 5 hành từ 5 tạng và xác thân bên trong ra đến sắc vị bên ngoài như sau:

Tạng Phổi, da, màu trắng, vị cay.

Tạng Tim, mạch, màu đỏ, vị đắng.

Tạng Gan, gân, màu xanh, vị chua.

Tạng Tỳ, thịt, màu vàng, vị ngọt.

Tạng Thận, xương, màu đen, vị mặn.

Thế là chỉ nhắc lại hệ thống của 5 hành, mà chúng ta đã thông qua từ trước chớ chẳng có gì lạ. Tuy nhiên nếu ta không thâm sâu suy tư, thì đây cũng chỉ là những chữ nói suông chẳng được chút bổ ích nào. Nếu ta đem ý thức này vào trong sự tương giao tiếp xúc với sắc vị hằng ngày, mà chứng nghiệm ngay ở nơi con người của mình, thì đoạn này vẫn là quý giá. Và là một đoạn để kết lại hết tất cả ý từ đoạn 1, 2, 3, 4, 5 vậy.

BÌNH

Nếu tôi là loại thầy thuốc tôn thờ trí óc, tôi không cần biết gì hết về cái thường cái sống, tôi chỉ cần biết làm thế nào để giải quyết ngay cái biến cái chết. Mà tôi đã không biết gì hết về cái sống cái thường của một con người đích thực, thì làm gì tôi biết được cái biến cái chết?!

Tôi đã không biết gì hết về cái thường cái sống, cái đích thực là con người bình thường ở chính nơi tôi. Thế là tôi đã mang một bộ máy bất thường của tôi để khám phá hầu mong biết được cái bất thường cái chết của kẻ khác, thì cái biết cái giải quyết của tôi quyết định chẳng qua cũng chỉ là một thứ làm loạn không hơn không kém. Thế mới biết: muốn thấu suốt được cái biến, cái chết, cái không phải là một con người đích thực bình thường, thì ít nhất cũng phải biết được thế nào là thường, thế nào là sống. Mà muốn biết được thế nào là thường, thế nào là sống, thì chỉ có một cách duy nhất là phải tìm thấy cho được cái con người đích thực bình thường đích thực sống chính con người của mình trước đã, là một điều kiện quyết định muôn thuở không thể khác hơn.

Nếu tôi là một thiếu phụ đã độ 2-3 con, chồng tôi chán cảnh con cái bận rộn gia đình giao phó mặc cho tôi làm sao thì làm, ông ta tha hồ đi đây đi đó. Lòng tôi bắt đầu cảm thấy trống trải, tinh thần tôi đâm ra thấy lạnh lẽo bơ vơ như lạc lõng vào chốn sa mạc ban đêm, cộng thêm vì tôi không hiểu tôi lại xấn bấn theo cái tủ lạnh mà uống nhiều nước lạnh quá. Lòng tôi lại càng thấy lạnh lẽo hơn, thế rồi tôi đâm ra thích ăn ớt chín. Có những hồi rỗi việc, tôi thấy tôi rất quyến luyến với lọ thuốc bôi móng tay màu đỏ, tôi bèn thử lấy bôi vào, trông qua thấy đẹp quá, tôi bôi nốt cả 10 ngón tay, 10 ngón chân. Thế là do Tim tôi thiếu nhiệt lực, mạch máu của tôi thiếu chu lưu, tinh thần của tôi thiếu ấm áp, nên phải đòi hỏi ớt chín và màu đỏ để tự cứu. Như thế há không phải màu đỏ thuộc về hệ thống của Tim sao?!

Nếu tôi là một người chồng gia trưởng trong một gia đình, tánh tôi quá bạo tợn nóng nảy, tôi lại có bệnh ghiền rượu. Rồi một hôm bỗng dưng tôi đâm ra muốn ăn canh lá khổ qua và tôi ăn thấy ngon ngọt như người ta ăn những thức ăn ngọt. Thế là trong con người của tôi đã bị thừa nước chua, lại thêm tạng Tim vì quá bồng bột nóng nảy nên muốn to ra. Do vậy mà trong vô tình của bản năng thiên nhiên bảo vệ đòi hỏi vị đắng để lấy lại thế quân bình cho Tim. Như thế há không phải là vị đắng thuộc về hệ thống của Tim sao? Thế mới biết: từ sắc đến vị, tạng nào cũng có hệ thống nấy, chỉ có ta biết khám phá áp dụng hay không mà thôi.

ĐOẠN 7

PHIÊN ÂM

Chư mạch giả giai thuộc ư mục. Chư tủy giả giai thuộc ư não. Chư cân giả giai thuộc ư tiết. Chư huyết giả giai thuộc ư tâm. Chư khí giả giai thuộc ư phế. Thử tứ chi bát khê chi triêu tịch dã.

DỊCH

Hết thảy 12 kinh mạch đều thuộc(1) về mắt. Hết thảy các tủy đều thuộc về óc. Hết thảy các gân đều thuộc về khớp. Hết thảy các huyết đều thuộc về tạng Tim. Hết thảy các khí đều thuộc về tạng Phổi. Tất cả dinh vệ đều vận hành khắp châu thân (tứ chi bát khê(2)) suốt ngày đêm không bao giờ ngừng nghỉ.

GIẢI

Theo tinh thần NỘI KINH thì con người khi mới phôi thai 5 tạng có trước, xác thân có sau. 5 tạng là phần tạng của tạng phủ, óc là tạng của xác thân bên ngoài. Tinh hoa của 5 tạng được đưa lên kết đúc mà thành bộ óc. Đành rằng cuống mắt đều tóm và dính liền với phần óc nhỏ phía sau. Bộ óc nhỏ phía sau là vùng thuộc về thần kinh động tác, do đó mà con mắt là khiếu của Gan. Nhưng mí mắt trên thuộc Vị, mí mắt dưới thuộc Tỳ, mạch máu của khóe trong thuộc về Tim, khóe ngoài thuộc về Ruột non, bắp thịt ở khóe trong thuộc về Bọc Tim, màng mắt thuộc về Tam tiêu mà chỗ tóm là khóe ngoài, tròng trắng thuộc về Phổi và Ruột già, tròng đen thuộc về Gan với Mật, con ngươi thuộc về Thận với Bàng quang (xem hình vẽ).

Hình 10-1: CÁC KINH MẠCH HỘI TỤ VỀ MẮT

Nhờ thế mà khi con người có bệnh, con mắt là nơi giúp cho ta một phần lớn lao trong việc khám phá. Hơn nữa cặp mắt là cửa của tinh thần chiếu ra; cho nên trực tiếp thì mắt là tinh hoa của toàn bộ óc, gián tiếp mắt là tinh hoa của toàn cả cơ cấu tạng phủ châu thân. Chính vì nghĩa đó mới nói: “hết thảy 12 kinh mạch đều thuộc về mắt”. Phương chi mỗi khi tròng con mắt bị đè nặng vào, là nhịp đập của Tim chực muốn ngừng lại. Đây cũng là một bằng chứng cụ thể cho ta thấy nghĩa câu “hết thảy 12 kinh mạch đều chầu về mắt” vậy.

Xương là thành phần bên ngoài của tạng Thận, tủy là tinh hoa của 5 tạng được tạng Thận tinh luyện mà đưa vào để bồi bổ cho xương. Tất cả những xương có lỗ bộng để đựng tủy, thì chỉ có bộng xương sọ là to nhất. Xương sọ là phần xương ở trên cao nhất trong con người, mà cũng là nơi chứa tủy nhiều nhất để ta gọi là óc. Óc là phần tủy được tinh luyện nhất, có đủ sức mạnh đi lên cao nhất.

Khi con người trác táng nhiều quá, tạng Thận bị tổn thương trước, rồi kế đến tủy trong các xương, và cuối cùng sự tiêu hao ấy sẽ lấn lần về óc. Óc phải vận chuyển xuống các xương để cứu vãn thế quân bình tạm thời, nếu không thì sẽ bị lâm vào tình thế gián đoạn đến chết mất. Chính vì chỗ đó cho nên mới nói: “Hết thảy các tủy đều thuộc về óc”.

Nói Mộc khắc Thổ. Nhưng sự thực bắp thịt nếu không được màng gân bao bọc thì thịt không thể thành bắp được, mà tác dụng của thịt cũng không thành. Hai đầu bắp thịt là nơi màng gân tóm lại để thành gân mà mắc vào 2 đầu xương, và đầu xương bên này với đầu xương bên kia mắc liền nhau cũng bằng gân, để cấu tạo thành một khớp xương linh hoạt. Nếu thiếu điều kiện gân thì cả xương lẫn thịt đều mất tác dụng. Chính vì thế mới nói: “hết thảy các gân đều thuộc về khớp”.

Vòng tuần hoàn của máu xuất phát từ tạng Tim theo mạch và vọt ra đi khắp châu thân, rồi cũng phải trở về với Tim để thành vòng tuần hoàn luân lưu không hề ngừng nghỉ. Thiếu tạng Tim máu không thể chạy được. Vì thế nên mới nói: “hết thảy các huyết đều thuộc về tạng Tim”.

Tất cả sự vận hành trong châu thân, động lực mạnh nhất, rõ rệt nhất, đặc biệt nhất không đâu hơn tạng Tim và tạng Phổi. Tạng Tim là cơ quan bơm máu tự động, tạng Phổi là cơ quan bơm hơi tự động. Như đã nói ở đoạn 1, nếu thiếu tạng Phổi thì tất cả cơ cấu thâu hút và bài tiết của hệ thống phần khí trong châu thân đều bị đình đốn không vận hóa được. Chính vì thế nên mới nói: “hết thảy các khí đều thuộc về tạng Phổi”.

Tóm lại ý chính của đoạn nầy là tiếp tục với đoạn trên, mà ý thức cho ta thấy rõ hệ thống trong đồng nhất tương quan trật tự biến hóa lưu thông đi vào cơ thể con người rõ rệt đâu ra đấy, để khi nhập cuộc vào tinh thần kỹ thuật không bị lạc tay lái. Và câu chót của đoạn nầy chỉ là một câu lưu thông để nói lên ý tóm lược về một con người sống, một con người linh động, để ý thức cho hậu học khỏi bị sa lầy vào cái nhìn con người như là một bộ máy vô tri vô giác, như hầu hết thầy thuốc ngày nay, mà cũng là để mắc liền với tinh thần đoạn sau.

BÌNH

Nếu tôi là một kẻ mắc kẹt vào cái Tôi lùn xủn tí teo ngắn ngủi của một kiếp người mà nhìn quả địa cầu nầy, thì địa cầu không khỏi chỉ là một vật chết tê không linh động. Nhưng giá tôi thử bước tránh ra ngoài vòng thái dương hệ và to lớn lên cho bằng như hư không, mà đứng im lìm quay nhìn vào địa cầu với suốt từ khi mới phôi thai đến giờ, thì tôi mới thấy đời sống của quả địa cầu thiệt là vô cùng linh động.

Nếu tinh thần tôi là một khối hun đúc bằng cách nhìn một con người như là một bộ máy vô tri vô giác, mà mỗi một bộ phận chỉ là một thứ từ cục từ cục để riêng không quan hệ gì đến hệ thống tương quan nhân quả, cũng không cần chú trọng đến cái nhân, thì quyết định tôi phải nghĩ đến cách thay trái tim, đổi tròng mắt, và tử cung với bao tử không dính dấp gì nhau là lẽ dĩ nhiên. Với cặp mắt đó tôi đọc đoạn nầy của NỘI KINH, quyết định tôi phải bịt mũi phì cười mà cho là chuyện của đám trẻ con thơ dại.
Ngược lại, nếu tôi biết trở về với tôi, tôi biết dừng lại ở giới hạn của giác quan, của trí óc tính toán và máy móc dụng cụ, là tôi thấy ngay không những ở con người của tôi, mà cả bầu bao la vô tận đều nằm tròn trong cái lẽ đồng nhất tương quan trật tự biến hóa lưu thông của một mạch sống bắt nguồn từ linh không vô cực không bao giờ ngừng nghỉ. Rồi tôi đọc đoạn nầy, tôi mới thấy đây là một cách nói của một con người thật sống nói với người sống.

Thế mới biết: nếu tôi mang cặp mắt chết mà nhìn sự vật, thì tất cả sự vật đều là khung cảnh chết. Nếu tôi có cặp mắt sống mà nhìn sự vật, thì mới thấy được tất cả sự vật đều sống đều tương quan. Do đó mà biết việc làm cho cặp mắt sống lại được, là một việc làm ưu tiên nhất, quyết định nhất.

ĐOẠN 8

PHIÊN ÂM

Cố nhân ngọa huyết quy ư Can. Can thọ huyết nhi năng thị, Túc thọ huyết nhi năng bộ, chưởng thọ huyết nhi năng ốc, chỉ thọ huyết nhi năng nhiếp.

Ngoạ xuất nhi phong xuy chi, huyết ngưng ư phu giả vi tê, ngưng ư mạch giả vi lịch, ngưng ư túc giả vi khuyết. Thử tam giả, huyết hành nhi bất đắc phản kỳ không, cố vi tê khuyết dã.

DỊCH

Nên khi con người nằm ngủ thì huyết tụ về ở Gan. Gan nhờ có huyết mà con mắt có thể thấy, chân nhờ huyết mà có thể đi, bàn tay nhờ huyết mà có thể nắm, ngón tay nhờ huyết mà có thể cầm.

Khi con người đang nằm ngủ bất thần trỗi dậy, nếu gặp luồng gió thổi đến, ở mặt da huyết bị ngưng đọng mà làm ra tê. Nếu huyết ngưng đọng ở mạch, thì làm cho khó lưu hành; ngưng đọng ở chân làm ra khuyết nghịch. Ba trường hợp ngưng đọng ấy, làm cho huyết đi ra mà không trở về được, sanh ra tê và khuyết nghịch vậy.

GIẢI

Đoạn nầy vẫn mắc liền với đoạn trên, mà ý chính là muốn nói: sự sanh hoạt của con người đối với khí dinh khí vệ vận hành bên trong của một con người sống cùng khí tiết bên ngoài rất có tương quan mật thiết. Nếu vô ý thức đánh mất sự tương ưng, thì thế quân bình bên trong sẽ đổ vỡ.

Chữ “nên” ở đầu câu thứ nhất cũng như bao nhiêu chữ “cho nên” ở đầu những đoạn qua để làm thành thế chuyển tiếp. Vì cuối đoạn trên có nói “tất cả dinh vệ đều vận hành khắp châu thân suốt ngày đêm không bao giờ ngừng nghỉ”, nên ngoài ý chuyển tiếp chữ “nên” nầy còn có nghĩa để diễn tả tiếp một con người sống.

Trong con mắt của người xưa nhìn con người như một cái ống, và cũng như bao nhiêu sinh vật khác, con người cũng phải chịu chung một luật ly tâm hướng tâm. Nếu tính theo như một cái ống, thì trong lòng bộ tiêu hóa là chính giữa lòng của cái ống. Nhưng nếu theo sự vận hành của 12 dòng năng lực trong kinh mạch, thì tạng Gan là đầu mối trong nhất mà cũng là nơi bắt đầu để đi ra ngoài.

Sinh hoạt của con người ngoài thế thức ngủ, ngày đêm ra; còn có những lúc nghỉ ngơi, nằm dậy không theo sự vận chuyển của công lệ ngày đêm.

Đã như là một cái ống cùng chịu chung một định luật ly tâm hướng tâm, mà nơi trong nhất của phần khí dinh (của ١٢ kinh mạch) lại là tạng Gan. Và cả khí dinh lẫn khí vệ đều lệ thuộc vào sự vận hành của ngày đêm sáng tối âm dương, lẽ cố nhiên khi con người nằm nghỉ hoặc đêm ngủ, tương tự như là một cái ống thuỷ bình để cân mặt bằng khi được để nằm theo mặt thuỷ bình, làm cho cả khí dinh lẫn khí vệ đều phải rút bớt ở phần mặt da để quy tụ về tạng Gan. Đây là một thế chung của trật tự tương quan biến hóa lưu thông trong đồng nhất, mà con người không thể khác hơn. Vì để diễn tả thế linh động đó, nên mới nói: “Khi con người nằm ngủ thì huyết tụ ở Gan”.

Con mắt là khiếu của Gan, Gan thiếu huyết con mắt mờ. Cho nên mới nói: “Gan nhờ huyết mà con mắt có thể thấy”.

Trong con người sống có 3 yếu tố quan hệ là: yếu tố khí, yếu tố huyết và yếu tố chơn nguyên. Yếu tố khí thuộc phần khí vệ, yếu tố huyết thuộc về phần khí dinh; hai phần nầy luôn luôn hoặc dời vào trong hoặc dời ra ngoài theo ngày đêm và thế sanh hoạt; còn yếu tố chơn nguyên là phần sinh lực nền tảng, lúc nào cũng chỉ một mực bình thường. Thí dụ trở về đêm mặc dù cả khí dinh lẫn khí vệ đều rút lui về bên trong, nhưng khí chơn nguyên bên ngoài vẫn giữ y nguyên như vậy; hoặc ngược lại khi trở về ban ngày cả khí dinh khí vệ đều hướng ra ngoài, mà khí chơn nguyên vẫn giữ y một mực ở bên trong. Do đó mà khí chơn nguyên trở nên quan trọng. Khi khí chơn nguyên bị suy giảm cộng với thế vận hành của khí dinh vệ ra vào, sẽ tạo thành một tình thế đảo lộn. Tuy nhiên nơi đây đang diễn tiếp về sự vận chuyển của khí dinh và khí vệ mà thôi.

Thiếu khí dinh khí vệ, thì mạch sống trong con người không thể tương ưng kịp với đà linh động trong cõi thiên nhiên, cũng như trong sanh hoạt hàng ngày của con người. Bởi thế nên mới nói: “Chân nhờ huyết mà có thể đi, bàn tay nhờ huyết mà có thể nắm, ngón tay nhờ huyết mà có thể cầm”. Nếu huyết không tiếp dưỡng được đến tận tay chân thì liền sanh khuyết nghịch. Thế là huyết tùy theo sanh hoạt mà vận hành, mà sanh hoạtcũng phải bị lệ thuộc vào phần huyết.

Như trên đã nói khi con người yên nghỉ khí dinh theo khí vệ đều tụ vào Gan, lẽ cố nhiên khi con người trỗi dậy trở lại sanh hoạt bình thường, thì cả khí dinh lẫn khí vệ cũng đều phải hướng về bên trên bên ngoài mà tan ra khắp châu thân để làm nhiệm vụ bảo vệ và tiếp dưỡng. – Chánh văn nói: “Khi con người đang nằm ngủ bất thần trỗi dậy, nếu gặp luồng gió thổi qua, ở mặt da huyết bị ngưng đọng mà làm ra tê”. Thế là trong chỗ không chữ ngoài lời, luận giả muốn nói từ khí dinh khí vệ ở Gan bắt đầu đi ra ngoài mặt da phải có một thời gian biện chứng. Nếu thiếu thời gian tính đó cộng thêm nếu có bị đổ mồ hôi rủi gặp luồng gió thổi đến, thì áp lực của luồng gió ấy sẽ lấn vào một vùng mặt da nào nó đã xâm phạm, để cho phần vi huyết quản ở mặt da bị ngưng đọng, tuần hoàn mặt da nơi ấy bị bế tắc làm ra chứng tê ở mặt da. Nghĩa là mắc một thứ bệnh có triệu chứng sờ vào mất cảm giác.

Nếu thế tà khí tiến sâu hơn lấn đến phần mạch máu, thì sẽ làm cho sự tuần hoàn của máu trở nên đông rít khó lưu thông. Thế là mạch máu đã bị ngoại tà xâm chiếm.

Nếu tà khí xâm lấn vào các kinh mạch ở hai chân, huyết ở hai chân bị ngưng đọng. Khí dinh vệ không chu lưu xuống đến chân được, lẽ cố nhiên hai chân bị các mạch vít lại, làm cho âm dương không chuyển tiếp được mà sanh khuyết nghịch.

Cách thế xâm phạm vào con người của bệnh ngoại cảm, trong trường hợp nhiễm khí lạnh và nhiễm khí gió khác nhau. Vì khí lạnh là một thứ áp lực đè nặng chung cho khắp mặt da, còn khí gió là một thứ mũi nhọn từ bên ngoài xông vào một vùng nào đó trong cơ thể. Bởi vậy khí lạnh lấn vào cơ thể cũng chậm chạp hơn khí gió; do đó nên Thương Hàn luận của Trọng Cảnh đặt tên cho sự cảm nhiễm khí lạnh bằng danh từ “thương hàn”, còn cảm nhiễm khí gió thì gọi là “trúng phong”. Cho nên hoặc làm cho mặt da tê dại, hoặc làm cho mạch máu khó lưu thông, hoặc làm cho hai chân sanh khuyết nghịch, cũng chẳng qua là vì trúng gió làm cho vòng tuần hoàn đi ra mà không trở về được, cho nên mới xảy ra tê và khuyết nghịch như chánh văn đã nói. Thế là khí dinh phải tùy thuận theo khí vệ và sự sinh hoạt của con người mà vận chuyển chu lưu. Nếu trong vô tình sinh hoạt trái thường, không thuận theo cái đà biện chứng của thiên nhiên, thì sẽ dễ sanh ra bệnh tật.

BÌNH

Biết được cái thường cái sống, thì mới biết được cái biến cái chết. Đây là một định lý.

Muốn giải quyết một sự việc gì, tất trước hết cần phải biết rõ sự việc ấy. Đây cũng là một định lý.

Thông qua mạch chánh văn, rồi nhìn ra công tác tuyên truyền về khoa học cũng như y khoa theo phương tiện truyền thanh, truyền hình, chiếu bóng v. v. về sinh lý, về tuần hoàn, về hô hấp, về tiêu hóa trong con người ngày nay, tôi làm sao dám bảo rằng: Y khoa cũng như khoa học ngày nay không biết gì hết về máu huyết, về hơi thở, về tiêu hóa, về sinh lý của một con người sống thực và cũng không biết gì hết về bệnh tật chớ?! Nhưng ngược lại, trông về toàn diện cuộc sống của tầng lớp trí thức (như các nhà khoa học, các bác sĩ v.v.) ngày nay, lúc nào cũng quạt máy, phòng lạnh, lúc nào cũng nước đá, cũng vitamine, cộng thêm với nhan nhản trước mắt càng ngày càng không biết bao nhiêu người cận thị, không biết bao nhiêu kẻ sinh ra không ngồi được, không biết bao nhiêu bệnh ung thư đang hoành hành cũng như không biết bao nhiêu người trúng gió quạt máy mà chết, kể cả những trường hợp trong gia đình bác sĩ; lại thêm đến ngày giờ nầy mà y khoa ngày nay cũng chưa biết gì hết về bệnh ngoại cảm, các bệnh thuộc loại huyết chứng (như bị đánh, bị té, kinh kỳ, sinh sản v.v.), bệnh thoát tinh trong sinh lý, bệnh thịt dư mũi, thịt dư cổ họng v.v. thì tôi làm sao dám tin rằng: Y khoa cũng như khoa học ngày nay thật tình biết được một con người sống chớ?

Có ai ngờ! Khúc ruột dư bị bệnh mà lại bảo dư ruột rồi phải đi mổ cắt bớt đi mới được?!

Có ai ngờ! Bệnh áp huyết cao (động mạch biến cứng) mà lại bảo là máu dư, rồi đâm kim lấy bớt?!

Có ai ngờ! Một em bé mới mấy tháng mắc phải chứng bệnh ngoài da. Bác sĩ ngoài chữa không được, giới thiệu vào một bệnh viện ở Sài Gòn. Một ông bác sĩ giao phó cho y tá phải rút lấy 3 lọ Péniciline máu, để ông ta thí nghiệm. Y tá đến thấy em bé nhỏ ốm, biết được nếu lấy đủ số máu ấy thì em bé chết liền, nên ông ta chỉ lấy mới có 1 lọ đã thấy em bé ngất xỉu, bèn báo cáo với bác sĩ. Bác sĩ đến không cần nghĩ phải quấy, đâm kim lấy đủ số máu mình dự định, em bé cũng theo đó mà chết, bác sĩ vẫn điềm nhiên không nao núng!

Như thế trong vô hình trong bụng tôi làm sao không nổi lên cả tá câu hỏi thì thầm rằng:

– Không biết có phải vì lẽ phóng vọt ra ngoài nhiều quá, rồi họ biết quá hóa ra ngu chăng?

– Hay vì dục vọng quá cao mà con người trở nên u mê lú lẫn?

– Phải chăng những vị bác sĩ ngày nay họ định thí con người để làm bàn đạp cho dấu chân vụng về của họ bước đi?!

– Nếu đã không biết gì hết về một con người sống, thì sao lại gọi là bác sĩ?

– Đã không biết gì hết về con người sống, thì làm sao biết được vũ trụ sống?

– Đã không biết gì hết về sống, thì sao gọi là khoa học? Vậy ý nghĩa của hai chữ “khoa học” nằm đâu?

– Phải chăng ngoài phương pháp trở về với chính con người của mình trước để thực chứng thực nghiệm, quyết định không có một đường hướng nào khác hơn được?

ĐOẠN 9

PHIÊN ÂM

Nhân hữu đại cốc thập nhị phần, tiểu khê tam bá ngũ thập tứ danh, thiểu thập nhị du, thử giai vệ khí chi sở lưu chỉ, tà khí chi sở khách dã, châm thạch duyên nhi khử chi.

Chẩn bệnh chi thỉ, ngũ quyết vi kỷ, dục tri kỳ thỉ, tiên kiến kỳ mẫu, sở vị ngũ quyết giả ngũ mạch dã.

DỊCH

Toàn mặt da con người có tất cả 12 huyệt cái và 354 huyệt thường, cộng cả hai lại mới đủ ăn khớp với số chu kỳ của một năm. Chúng nó là những địa điểm để khí vệ ra vào, vì thế mà khi tà khí bên ngoài xâm phạm vào mặt da phải đụng đến những nơi ấy trước, phép châm phép thạch(3) cũng nhờ đó mà được thành lập để chữa bệnh.

Cái học khám bệnh phải rõ thông 5 mạch(4) làm giềng mối, muốn biết được trước phải kiến lập hệ thống tương sanh của 5 hành trong 5 tạng.

GIẢI

Đại khái đoạn này là nối tiếp của ý mạch văn trên để lưu ý về khí vệ bên ngoài ra tận đến mặt da, bên trong sâu tận 5 tạng và ứng ra hiện tượng 5 mạch, để kiến thiết một nền tảng khám phá về bệnh tật.

Chu kỳ của quả đất quyện theo mặt trời là 365 ngày có hơn (1 năm) kể như 366 ngày, mỗi một ngày địa cầu lăn đi một độ. Con người là quả địa cầu thu nhỏ lại, để ứng hợp với thời gian 1 năm thu ngắn lại thành ngày. Vòng chu kỳ của 12 kinh mạch vừa là vòng chu kỳ của 12 tháng, mà cũng vừa là vòng chu kỳ của 12 giờ (Tí, Sửu, Dần, Mẹo, v.v..) Lịch trình chu kỳ của 12 kinh mạch suốt trong 12 giờ phải trải qua 366 khúc thời gian, mỗi khúc là 1 khớp, bề mặt là vòng chu kỳ từng khớp nối tiếp nhau, nhưng chiều sâu lại là những cái hố vô hình thở ra tận từ 5 tạng; do đó mà con người có 366 huyệt chính, nhưng vì có một khớp thiếu nên đại lược người ta chỉ kể có 365 huyệt chính mà thôi, vì lẽ vừa nói trên nên người ta cũng gọi là 365 khớp. Điều này rất có nhiều hậu học sai lầm tưởng rằng người xưa không hiểu gì hết về cơ thể con người, thật là đáng tiếc!

Trong 366 huyệt, có 12 huyệt cái ở phía sau lưng kèm hai bên xương sống, người ta thường gọi là 12 huyệt Du (Phế du, Tâm du v.v.). 12 huyệt Du nầy thông đồng trực tiếp với tạng phủ gần nhất quan hệ nhất, cho nên gọi là 12 huyệt cái.

Khí vệ đã là luồng khí dương vận chuyển theo thế vận hành của mặt trời suốt ngày đêm, thế là khí vệ là khí Thái dương trong thân người vận hành theo thế ly tâm hướng tâm. Vì có tác dụng bảo vệ nhiệt lực cho suốt trong ngoài, cho nên mới gọi là khí vệ. Về đêm nó thu vào tận cùng bên trong 5 tạng, ban ngày nó trở ra đến tận cùng mặt da. Cách vận hành của nó y hệt như cách vận hành của bầu khí quyện quả địa cầu. Nếu không may vì một lẽ gì nó bị suy giảm, mà áp lực ngoại tà của khí hậu bất thường xâm lấn vào, tức là gây thành loại bệnh mà người ta thường gọi chung là bệnh ngoại cảm. Loại bệnh ngoại cảm đi vào con người luôn luôn có một qui luật biện chứng, lần lượt rồi chúng ta sẽ thấy rõ vào đoạn tới cũng như liên tục với những thiên sau.

Nhờ cách vận hành của khí vệ theo ngày đêm, với cách cấu tạo mặt da có những luồng năng lực điện tuyến của chu kỳ kinh mạch và những huyệt thông đồng vào tạng phủ. Nên cái học châm cứu có cơ sở vững vàng, có thực chất rõ rệt, có kỹ thuật siêu tuyệt để dù trải qua 5-6 ngàn năm mà đối với chính chúng ta bây giờ vẫn tinh khôi như mới hồi nãy.

Trong con mắt của người thông đạt, con người không những là một con người đúng nghĩa của nó, mà còn là một phần hiện tượng trong cả một guồng máy hiện tượng vĩ đại cùng khắp bao la. Cho nên khi muốn điều chỉnh lại cái máy con người, ít nhất trên phải thông thiên văn, dưới phải đạt địa lý, giữa phải biết rõ về nhân sự, và bên trong phải thấu hiểu nhiều lắm về thế nào là con người bình thường của chính mình trước nhất, thì mới có thể giáp mặt được với con người mà mình muốn hiểu biết và điều chỉnh. Vì thế nên những điều kiện như vận khí, như luật tương sanh, tương khắc của 5 hành ráp vào 5 tạng, như ăn uống sinh hoạt, như hoàn cảnh xã hội v.v.; và cuối cùng còn phải biết rõ khi bình thường sinh lực của 5 tạng tùy theo niên vận mùa màng, mà chiếu vào 5 hiện tượng mạch của nó ra sao, để khi biến ta mới có đủ khả năng nhận chân được bộ mặt thật của nó. Do đó nên mới nói: “Cái học khám bệnh phải rõ thông 5 mạch làm giềng mối, muốn biết được trước phải kiến lập hệ thống tương sanh của 5 hành trong 5 tạng”. Thế là tinh thần của mấy câu vừa kể trên đều có quan hệ suốt tận đến thiên đầu; Nếu ta chỉ coi như là mấy câu rời rạc, thì không sao nhận ra được tầm quan trọng của nó. Điều nầy người đọc phải nên cẩn thận.

BÌNH

Có người hỏi: “Khắp châu thân con người chỉ có 366 huyệt để ăn khớp với vòng chu kỳ trong 1 năm”, vậy ngày nay người ta còn tìm thấy một số lớn bao nhiêu huyệt khác nữa thì sao?

Đáp: Nếu tinh thần thiệt lưu thông thì không bao giờ hỏi câu hỏi ấy. Vì sao thế? Đã chẳng từng nói: con người không những là một hiện tượng thu hẹp cả bao la, mà cũng là quả địa cầu được thu nhỏ lại. Sở dĩ nói ٣٦٥ hay ٣٦٦, chẳng qua chỉ nói đại lược về phần ảnh hưởng gần nhất. Nhưng nếu mở ra thì bao la nầy vô tận, thân con người cũng vô tận. Vì thế nên nếu ai mắc kẹt vào bệnh hướng ngoại mà dong ruỗi theo phần hiện tượng, phần tướng để săn đuổi theo cái vô cùng tận, thì quyết định cũng đến chết mất mà thôi.

Có người hỏi: mang cây thước hệ thống tương sanh tương khắc của 5 hành mà ráp vào tạng phủ, vào kinh mạch, vào mạch tượng, như thế là bởi con người chế ra hay sự thật vốn nó là như thế?

Đáp: Nếu do con người chế ra, quyết định là một sự nói láo không đáng để cho ta lưu tâm. Nếu ai nghĩ như thế, tức là chưa hiểu gì hết về cái lẽ đồng nhất tương quan trật tự biến hóa lưu thông trong cái vòm viên dung vô tận này vậy.

ĐOẠN 10

PHIÊN ÂM

Thị dĩ đầu thống điên tật, hạ hư thượng thiệt, quá tại Túc Thiếu âm Cự dương; thậm tắc nhập Thận.

Tuận mông chiêu vưu, mục minh nhỉ lung, hạ thiệt thượng hư quá tại Túc Thiếu dương Khuyết âm; thậm tắc nhập Can.

Phúc mãn điền trướng, chi cách khư hiếp, hạ khuyết thượng mạo, quá tại Túc Thái âm Dương minh.

Khái thấu thượng khí, khuyết tại hung trung, quá tại Thủ Dương minh Thái âm.

Tâm phiền đầu thống, bệnh tại cách trung, quá tại Thủ Cự dương Thiếu âm.

DỊCH

Cho nên trên đỉnh đầu nhức, dưới hư trên thiệt, là lỗi ở Túc Thiếu âm và Túc Thái dương; nếu nặng nữa thì lấn vào tạng Thận.

Tròng mắt hoặc bị như liếc kéo xếch về bên trong hay bên ngoài, làm ra hiện tượng chóng mặt xoay bồ bồ hoặc con mắt mờ tai ù, dưới thiệt trên hư; đó là lỗi ở Túc Thiếu dương và Túc Khuyết âm; nếu nặng nữa thì vào Gan.

Bụng đầy căng trướng đẩy chẽn vừng lên, hai bên hông sườn bung ra, bên dưới khuyết nghịch, bên trên choáng váng; đó là lỗi ở Túc Thái âm và Túc Dương minh.

Ho hắng hơi đưa xốc lên, trong lồng ngực nghẹt vít lại, đó là lỗi ở Thủ Dương minh và Thủ Thái âm.

Tim bức rức, đầu nhức, nghe khó chịu ở vùng chẽn vừng, đó là lỗi ở Thủ Thái dương và Thủ Thiếu âm.

GIẢI

Đây vẫn là tiếp tục với đoạn trên để vạch ra 5 hệ thống triệu chứng mắc liền với kinh mạch thông đồng với tạng phủ, để mở lối khám phá cho những trường hợp bất thường khi con người bị ngoại tà xâm lấn, hầu ăn khớp với vấn đề 5 mạch của đoạn trên, mà cũng là để mở lối đề xướng cho qui luật Thương Hàn luận của Trọng Cảnh đời sau.

Bất cứ một thứ bệnh thời tiết ngoại cảm nào từ bên ngoài xâm lấn vào thân con người trừ ra trường hợp bên trong con người ấy vốn sẵn cái thế sụp đổ. Hết thảy đều phải theo 4 cách thức và 4 giai đoạn như sau: khởi đầu lấn vào phần da lông thuộc về phần khí, phần lạc; rồi kế đến mới có thể xâm phạm vào phần kinh mạch, phần huyết; nếu nặng nữa sẽ lấn lần vào tạng; nếu tạng còn đủ sức chống đỡ, thì tà khí sẽ chạy sang phủ mà qui tụ. Cách thức biến chuyển của nó qua từng lớp cơ thể, từng hệ thống kinh mạch, từng hiện tượng triệu chứng tương quan với tạng phủ nào đó; do vậy mà ta có thể theo dõi những hiện tượng triệu chứng, để biết rõ hệ thống của bệnh tật.

Chữ “cho nên” ở đầu đoạn này vẫn là tác dụng chuyển tiếp.

Bàng quang: là phủ của Thận thuộc về nguồn cội của Túc Thái dương. Thận là tạng của Bàng quang thuộc về nguồn cội của Túc Thiếu âm. Cả hai bên trong vốn thông đồng liên lạc nhau, rồi từ tạng phủ theo kinh mạch mà thông ra đến phần khí tận bên ngoài, như hình đã vẽ ở trang 145 của thiên thứ ba – quyển 1.

Nếu phân về thành phần 5 tạng, thì mặt da là thành phần của Phổi; nếu phân theo hệ thống kinh lạc thì mặt da mỏng bên ngoài thuộc về hệ thống khí của Túc Thái dương.

Mặt da bên ngoài là nơi giàu cảm giác nhất và có nhiều mạch máu trắng nhất. Thành phần kinh lạc của mặt da thuộc Túc Thái dương kinh Bàng quang đều chầu hết về phía sau lưng (hệ thống thần kinh phía sau) mà tụ về đỉnh đầu.

Vì nó thuộc về Hàn Thuỷ, cho nên dính liền với tạng Thận. Vì gốc nó là Bàng quang, cho nên tác dụng gốc của nó là nước là lạnh. Vì phần Thủ Thái dương gốc của nó là ruột non, phần Thủ Thiếu âm gốc của nó là tạng Tim. Cả Thủ Túc Thái dương và Thủ Túc Thiếu âm hợp lại mới sanh tác dụng vi huyết quản ra tận đến mặt da để gặp với vi ti thần kinh mặt da; do đó mà tác dụng ngọn của Thái dương là khí dương. Vì Thái dương đã thuộc về Hàn Thuỷ gốc là Hàn mà ngọn là dương, cho nên thể của nó là nước. Vì thế mà tất cả các nước trong các lớp màng bao tạng phủ: màng sườn, màng ngoại thận, màng bụng, trong ống dây thần kinh, màng óc đều thuộc về thành phần của Thái dương và Thiếu âm. Thể nước này tùy theo tác dụng âm dương của mỗi nơi mà hoặc đậm hoặc loãng khác nhau, nhưng hết thảy đều quan hệ đến khí Thái dương.

Thể nó đã là nước, là hàn, là chìm xuống mà khí của nó là hơi, là dương, là bốc lên. Do đó mà khi khí Thái dương bị mắc kẹt đình đốn ở một nơi nào, thì thể nước ở nơi đó sẽ bị biến thái và khí ở nơi đó cũng bị đổi thay, để sanh ra một thứ triệu chứng tùy theo chỗ mắc kẹt ấy là âm hay dương. Bởi vậy, khi bị ngoại cảm Thương hàn, mặt da bị bít lại làm cho sự bài tiết da đình đốn, thế nhiệt lực mặt da mất quân bình, khí dương bị dồn lui trở về trong, bên trong còn đủ sức chống trả, làm cho nó phải phản ứng ngược dòng theo hệ thống thần kinh mặt da phía sau lưng mà đổ dồn lên đỉnh đầu, gây thành triệu chứng nhức đầu trên đỉnh, để xảy ra hiện tượng trên thiệt dưới hư. Nếu sức đè ở ngoài của tà khí mạnh quá, gặp phải lúc sự bài tiết mồ hôi đang nhiều, thì số lượng mồ hôi ấy bị đẩy lui về màng óc, làm cho nước ở màng óc tăng lên và chứng nhức đầu trở nên kịch liệt. Do đó chánh văn mới nói: “Trên đỉnh đầu nhức, dưới hư trên thiệt, là lỗi ở Túc Thiếu âm và Túc Thái dương”. Đó là bệnh ở khí mà vào kinh. Nếu hệ thống tạng phủ ấy không đủ sức chống đỡ, lẽ tất nhiên bệnh sẽ theo kinh mà lấn vào tạng; cho nên nói: “Nếu nặng nữa thì sẽ truyền vào Thận” là nghĩa thế.

Xác thân bên ngoài là phần dương, tạng phủ bên trong là phần âm. Nhưng bên trong tạng phủ cũng vẫn có hệ thống phân ra âm dương, thế thì xác thân cũng vậy. Thế là bên trong có 3 âm 3 dương của âm, bên ngoài có 3 âm 3 dương của dương. 3 âm 3 dương của âm có thủ túc, thì 3 âm 3 dương của dương cũng có phân thủ túc. Thế là 3 âm 3 dương, 6 thủ sáu túc của xác thân bên ngoài phải ứng hợp với 3 âm 3 dương 6 thủ 6 túc của tạng phủ bên trong.

Theo thế 3 âm 3 dương cấu kết thân người, thì chỉ có 3 dương bên ngoài còn 3 âm lại khuất vào bên trong để ứng hợp với 3 dương. Do đó mà trọn hết phía sau lưng lên đến đỉnh đầu, vòng ra phía trước đến Nhơn trung (giữa môi trên) là thuộc phần Thái dương; suốt hết phía trước từ dưới lên trên trùm cả khuôn mặt là phần Dương minh; hai bên hông người từ chân lên đến màng tang để giáp đỉnh đầu là khu vực của Thiếu dương. Thế là con người là một trụ cột 4 cạnh mà phân thành 3 dương. Đây là nói về nghĩa chính nghĩa đặc biệt, chớ không phải những luồng điện tuyến năng lực của kinh mạch phần âm cùng những huyệt ấy không có hiện ra bên ngoài.

Thủ Thiếu dương thuộc về Tam tiêu là phủ của Bọc Tim, Túc Thiếu dương thuộc về Mật là phủ của Gan, Thủ Khuyết âm thuộc về Bọc Tim là tạng của Tam tiêu, Túc Khuyết âm thuộc về Gan là tạng của Mật. Vì thế mà Thiếu dương gốc là Hỏa mà ngọn là dương, Khuyết âm gốc là phong mà ngọn là âm. Phần Thiếu dương đã gốc là Hỏa mà ngọn là dương, thành phần kinh mạch lại chiếm trọn phía hai bên hông người, bên trên dính liền với gân phía ngoài tròng mắt thuộc về hướng đuôi con mắt. Vì thế nên khi ngoại tà lấn vào phần khí Thiếu dương mà vào kinh, thế Hỏa bốc lên theo hệ thống Tam tiêu mà đổ dồn về hai bên màng tang lên khoé ngoài của hai mắt để chi phối thế quân bình khí hóa của tròng mắt và lỗ tai, làm cho triệu chứng ở mắt thấy chóng mặt quay bồ bồ, ở tai nghe tai ù và nhìn chung thấy có hiện tượng dưới thiệt trên hư. Chính vì thế, mà Thương Hàn luận Trọng Cảnh dùng 4 chữ “nhỉ lung mục huyền” để diễn tả cho triệu chứng chánh của Thiếu dương.

Đại phàm đúng theo luật của hệ thống ngoại cảm, khi bệnh từ phần khí đi vào phần kinh, hễ phần dương thiệt thì phần âm phải hư, phần âm thiệt thì phần dương phải hư; và khi bệnh nặng hơn nữa thì cách thế truyền vào tạng, cũng như đã nói ở câu Túc Thiếu âm, Túc Thái dương trên. Chính vì chỗ đó nên chánh văn mới nói: “tròng mắt hoặc bị như liếc xéo về bên trong hay bên ngoài, làm ra hiện tượng chóng mặt xây bồ bồ hoặc con mắt mờ tai ù, đó là lỗi ở Túc Thiếu dương và Túc Khuyết âm, nếu nặng nữa thì vào Gan”.

Phía trước con người đã là bề mặt của Dương minh, bụng là cái thùng chứa bộ tiêu hóa mà Tỳ Vị là cơ quan chính; thế là âm dương ứng nhau. Khi bệnh ở khí lấn vào kinh, hễ Dương minh thiệt thì Thái âm phải hư, Thái âm thiệt thì Dương minh phải hư. Khi Dương minh thiệt thì xảy ra cuồng loạn không ngủ; nếu Thái âm thiệt thì bụng căng trướng đầy dẫy đẩy dồn lên chẽn vừng, làm cho hai bên hông sườn bung ra, ở dưới vít lại, ở trên choáng váng tối tăm. Cho nên nói “bụng đầy căng trướng đẩy chẽn vừng lên, hai bên hông sườn bung ra, bên dưới khuyết nghịch, bên trên choáng váng, đó là lỗi ở Túc Thái âm và Túc Dương minh”.

Thủ Dương minh thuộc về Đại trường là phủ của Phổi. Túc Dương minh thuộc về Vị là phủ của Tỳ, Thủ Thái âm thuộc về Phổi là tạng của Đại trường. Túc Thái âm thuộc về Tỳ là tạng của Vị. Thủ Dương minh thuộc về Táo kim, Túc Dương minh thuộc về Táo thổ; thế là Dương minh gốc nó là ráo mà ngọn là dương.

Tạng Phổi thuộc về thanh kim, tạng Tỳ thuộc về thấp thổ; thế là Thái âm gốc nó thấp mà ngọn là âm. Vì là tạng phủ lẫn nhau, nên khi Phổi có bệnh là ảnh hưởng sang Đại trường, Đại trường có bệnh cũng ảnh hưởng sang Phổi. Triệu chứng ho hắng hơi đưa xốc lên là triệu chứng chánh về phần khí của hệ thống theo kinh Phổi và Đại trường. Cho nên nói: “ho hắng hơi đưa xốc lên, trong lồng ngực nghẹt vít lại, đó là lỗi ở Thủ Dương minh và Thủ Thái âm”.

Vì Phổi là tạng da chủ về da lông, nên khi khí tà phạm vào mặt da thường làm cho hô hấp mặt da bị dội ngược trở lại Phổi mà tạo thành chứng ho hắng, lồng ngực bế tắc. Vì lẽ đó mà triệu chứng trên đây thường thông đồng với hệ thống triệu chứng Thái dương. Điều nầy ta chớ nên sơ hở.

Lồng ngực là nơi chứa Phổi và Tim, Tim nằm dưới Phổi. Hai tạng này rất quan hệ trực tiếp với hơi thở. Ruột non là phủ của Tim thuộc về Thủ Thái dương, Tim là tạng của ruột non thuộc về Thủ Thiếu âm. Khi ngoại cảm tà khí xâm phạm vào mặt da mà lấn lần vào trong, có những trường hợp hệ thống vi ti huyết quản ở mặt da đồng thời với phần khí bị áp lực ngoại tà lấn dội ngược vào trong, làm cho một mặt có triệu chứng nhức đầu, một mặt lồng ngực bị ngột ngạt Tim bứt rứt. Đó là ngoại tà xâm phạm theo hệ thống Thủ Thái dương và Thủ Thiếu âm. Nên mới nói: “Tim bứt rứt, đầu nhức, nghe khó chịu ở vùng chẽn vừng, đó là lỗi ở Thủ Thái dương và Thủ Thiếu âm”.

Thông qua 5 hệ thống triệu chứng trên, ta thấy tại sao 3 hệ thống sau không nhắc lại khi điều kiện bệnh nặng sẽ nhập vào tạng? Điều này không đáng gì để cho ta lấy làm lạ. Vì sao thế? Vì hai hệ thống đầu đã nêu rõ, ta có thể theo đó mà nhận biết đâu cần phải nhại lại cho thêm phiền. Thế là đây chẳng qua là mội phép lược giảng, nếu ta quá câu nệ ở chữ và lời thì lại càng thêm rắc rối. Cũng như ở thiên thứ 5 nói về nghĩa “thần”, cũng chỉ nêu lên ở hệ thống một hướng mà thôi.

Trong đoạn này không dùng chữ “bệnh” mà dùng chữ “lỗi” quả là luận giả rất có dụng tâm, người đọc phải nên cẩn thận.

Trong đây nêu lên năm hệ thống triệu chứng, là để ứng hợp với cái lẽ năm mạch với 5 hành của hệ thống toàn thiên. Nền tảng cả bộ luận Thương Hàn của Trọng Cảnh sau này đều từ NỘI KINH mà kiến thiết. Mặc dù luận Thương Hàn phân theo thế 3 âm 3 dương, nhưng đối với đoạn này về triệu chứng chính yếu đều hoàn toàn ăn khớp. Điều này nếu độc giả có lưu tâm tức khắc sẽ thấy rõ.

Nếu ai đã thâm nhập vào sự thật trong con người và đã thấu hiểu tinh thần NỘI KINH, rồi tiến sâu vào định luật Thương Hàn, tất không còn lạ lùng gì với lý do tại sao Trương Trọng Cảnh lại ghép bệnh màng óc có nước cũng như màng Phổi, màng Tim, màng sườn, màng bụng, màng ngoại thận có nước vào trong luận Thương Hàn.

BÌNH

Một hệ thống khe rãnh, người ta đắp ngang ở hướng thấp, rồi khơi dòng cho thông để tát. Tại chỗ sòng tát, người càng tát nước càng tụ về, mà trên ngọn rãnh càng ngày càng vực cạn.

Một người đắm say theo dâm dục quá độ, tinh lực càng bài tiết lại càng tụ về, mà các khớp xương, các tủy, cũng như trên Phổi tân dịch tinh lực càng ngày càng cạn kiệt.

Một người bị bệnh nước tụ về ở màng bụng làm trướng lên. Nếu ta đâm ống vào rút nước ra, nước càng rút đi nó cũng càng tụ về, mà mạch nước toàn cả châu thân càng ngày càng cạn kiệt, và tay chân càng ngày càng teo nhỏ lại, bụng vẫn càng ngày càng trướng to.

Đây là một định lý.

Một bệnh u nhọt nổi lên, sưng to đau nhức chưa làm mủ, người ta có thể cho thuốc uống hoặc thuốc đắp, rồi lần lần tự nhiên nó tan đi, không đợi quyết định rằng: phải cắt bỏ đi nó mới tiêu được.

Một bệnh thũng nước căng to, khi cho thuốc đúng cách nước tự nhiên giải tán rút đi hết, chớ không phải đợi đâm ống vào cho nước chảy ra nước mới rút được. Thế mới biết: hết thảy những bệnh tật ngưng tụ trong thân con người, hễ nó đến có cách biện chứng của nó tất nhiên khi nó rút giải tán đi cũng phải có cách biện chứng của nó, chỉ vì ta ta dốt nát chưa thâm hiểu nên tưởng rằng cái gì cũng đem máy móc vật chất mà áp dụng để giải quyết sẽ được mau chóng hơn, đến đỗi để lại không biết bao nhiêu là tai hoạ.

Đây cũng là một định lý.

Ngày nay người ta thường làm:

Khi gặp bệnh màng óc căng nước, người ta dùng kim đâm vào khớp xương sống thắt lưng để rút bớt nước đi, rồi bắt bệnh nhân nằm đầu thấp hơn đít từ 3-4 tấc để đánh lạc hướng sự vận hành của hệ thống Thái dương. Người ta đang làm cái gì đó? Và người ta làm như thế là người ta hiểu thế nào?

Một gia đình phụng thờ tủ lạnh, một cô bé bị thịt dư mũi, thịt dư cổ họng. Đem đến bác sĩ giải phẫu cắt đi, rồi bảo về luôn luôn ngậm nước đá và luôn luôn ăn thức ăn nguội để tủ lạnh. Rồi một hôm khí tiết thay đổi bị bệnh ngoại cảm, mồ hôi chuyển ra ngoài không được, ngưng tụ vào màng Phổi, mắc kẹt ở đó hóa thành nước thừa, làm nghẹt thở. Đem đến bác sĩ, bác sĩ đâm kim vào rút nước ra, rồi bơm thuốc vào gọi là chữa bệnh. Từ đó màng Phổi bị biến động. Phổi càng ngày càng suy yếu. Cô bé lớn lên với thân hình ròm rõi, mỗi khi trở trời, đưa đến bác sĩ gia đình chiếu điện rồi báo động là Phổi đã nám với bệnh lao và cho hàng tá thuốc trụ sinh Streptomycin, để con người ấy đến ngày nay cũng chỉ là một thứ nửa người. Người ta làm cái gì đó? Người ta hiểu thế nào?!

Một bệnh màng bụng có nước, bụng căng to, vào nhà thương người ta bèn chích thuốc tê ở vùng hố hông bụng dưới bên phải, rồi khoét một lỗ đâm ống vào lấy nước ra, rồi từ đó người bệnh tay chân dần dần teo lại, nước ở bụng cứ giữ một mực trở lại đều đều.

Làm theo cách nầy, trong 10 người bệnh tìm thấy một người sống sót thật rất khó khăn. Thế là người ta làm cái gì đó? Người ta hiểu thế nào?

Một trường hợp vừa bị bệnh ngoại cảm vừa uống nhiều nước đá lạnh, hệ thống bài tiết mồ hôi bị mắc kẹt ở vùng màng bao Tim làm thành có nước. Vào nhà thương người ta cho kim vào để rút nước ra, sau nầy kết quả ra sao khoan bàn, chỉ hiện tại thấy người bệnh ngất xỉu suýt chết, nếu không may đụng đến tạng Tim là có thể chết liền. Thế là người ta hiểu thế nào? Người ta làm cái gì đó?

Một người vốn có bệnh áp huyết cao, tánh tình nóng nảy hung tợn lại thêm uống rượu bê tha, một hôm ngồi phía sau một chiếc xe chở gạo của Hợp tác xã đang chầm chậm sắp qua ngã tư. Người ấy vịn bao gạo sau chót, bao gạo mất thăng bằng lăn rơi xuống đường, người ấy cũng rơi theo. Gạo nặng rơi trước nằm dưới, người ấy chúi đầu nghiêng theo chiều bả vai, trên đầu bị thương nhẹ, xương gánh gãy kín. Chở về nhà, nạn nhân bỗng dưng nổi lên cơn giựt, mỗi lần giựt là lưỡi thè răng cắn, con mắt kéo xếch về mang tai, đến 4-5 phút mới buông lơi, cứ độ nửa giờ, non giờ là giựt, giựt đến răng cắn lưỡi đứt đến 1/3. Đầu tiên đưa vào bệnh viện Grall, Grall không chữa được. Đưa vào Chung Cheng (Trung Chánh), các bác sĩ tụ tập rất đông cũng không biết là gì? Phải làm sao? Bệnh viện rước một bác sĩ người Nhật đến, khám xong Bác sĩ đoán: có lẽ đây là một trường hợp chảy máu bên trong xâm phạm đến thần kinh động tác v.v. Nếu nhà bệnh chịu, chỉ có cách giải phẫu để tìm máu chết lấy ra thì may sống, nếu không cũng sẽ không quá 10 ngày. Túng thế bệnh nhân được gia đình chở về, đưa đến một vị Trung y cho thuốc. Đại tiện ra rất nhiều máu chết, ba hôm hết giựt, 10 ngày sau người bệnh đi đứng bình thường và hiện giờ vẫn còn mạnh khoẻ (đây là chuyện xảy ra sau năm Mậu Thân). Thế là người ta hiểu thế nào? Người ta làm cái gì đó?

Khoa học hiện nay có những hồi người ta nói: sự biến động của nhiệt lực mặt trời rất có quan hệ đến tinh thần của nhân loại. Hoặc khi luận đàm về thiên văn người ta nói: quả địa cầu nầy sở dĩ vạn vật sanh sôi là bởi hội đủ điều kiện khí hóa âm dương, do đó mà biết được trong không gian nầy sẽ còn nhiều thế giới khác v.v..

Về nguyên tử học của khoa học người ta bảo: vấn đề phân tích để tìm sự thật đối với ngày nay hết còn linh thiêng, vì sao thế? Vì trong cái cực nhỏ cũng vẫn là một thứ bao la. Rồi cũng trong phạm vi khoa học ở khía cạnh hóa học, dược học v.v. người ta đang say sưa đắm đuối trong công việc thí nghiệm và phân tích vật chất để tìm sự thật. Rồi cũng trong lúc đó, cũng thuộc lãnh vực khoa học ở khía cạnh y khoa người ta đang say sưa nhìn con người và làm những chuyện như đã kể trên. Vậy cái hiểu của người ta thế nào? Người ta đang làm gì đó? Người ta muốn cái gì? Người ta đang đứng đâu đó? Thế thì thế nào là nghĩa đích thực của hai chữ “khoa học”? Và khoa học chỉ là một thứ khoa học? Hay là có thứ khoa học văn minh khoa học? Có thứ khoa học lạc hậu khoa học? Có thứ khoa học phi khoa học phản khoa học? Hay là chỉ có y khoa và dược khoa là một thứ khoa học lạc hậu nhất? Nghi vấn nầy có ai lưu tâm không?

ĐOẠN 11

PHIÊN ÂM

Phù mạch chi đại tiểu họat sắc phù trầm khả dĩ chỉ biệt. Ngũ tạng chi tượng khả dĩ loại suy. Ngũ tạng tướng âm khả dĩ ý thức. Ngũ sắc vi chẩn khả dĩ mục sát. Năng hợp sắc mạch khả dĩ vạn toàn.

Xích mạch chi chí giả, suyển nhi kiên, chẩn viết : hữu tích khí tại trung, thời hại ư thực, danh viết tâm tê, đắc chi ngoại tật, tư lự nhi tâm hư, cố tà tùng chi.

Bạch mạch chi chí giả, suyển nhi phù, thượng hư hạ thiệt, kinh, hữu tích khí tại hung trung, suyễn nhi hư, danh viết Phế tê hàn nhiệt, đắc chi tuý nhi sử nội dã.

Thanh mạch chi chí giả, trường nhi tả hữu đàn, hữu tích khí tại tâm hạ chi khư, danh viết can tê, đắc chi hàn thấp, dữ sán đồng pháp, yêu thống túc thanh
đầu thống.

Huỳnh mạch chi chí giả, đại nhi hư, hữu tích khí tại phúc trung, hữu khuyết khí, danh viết khuyết sán, nữ tử đồng pháp, đắc chi tật sử tứ chi hạn xuất đương phong.

Hắc mạch chi chí giả, thượng kiên nhi đại, hữu tích khí tại tiểu phúc dữ âm, danh viết thận tê, đắc chi mộc dục thanh thủy nhi ngọa.

DỊCH

Vả chăng, về phần hiện tượng mạch hoặc lớn hoặc nhỏ, hoặc trơn hoặc rít, hoặc nổi hoặc chìm đều có thể dùng ngón tay mà theo dõi phân biệt. Khí tượng của 5 tạng đều có thể dùng cây thước của 5 hành để phân loại gẫm suy. Về tướng của 5 tạng cũng như về âm thanh cũng có thể dùng cây thước 5 hành để ý thức. Về 5 khí sắc tế nhị hiện ra ngoài của 5 tạng cũng có thể dùng mắt để quan sát. Nếu có thể hợp cả môn sắc mạch lại để khám phá, thì có thể vẹn toàn.

Khi mạch xích(5) hiện thì vừa mau vừa cứng, thế là bên trong có chứa hơi, thường trở ngại cho sự ăn uống, gọi là chứng tâm tê(6). Nguyên nhân của bệnh này là vì bên trong quá tư lự làm cho tạng Tim hao, nương nơi đó mà tà khí bên ngoài lấn vào (nghĩa là vừa nội thương vừa ngoại cảm).

Khi mạch bạch(5) hiện là vừa mau vừa nổi, trên hư dưới thiệt, tinh thần hoảng hốt, trong lồng ngực có chứa hơi, hơi thở suyễn và thiếu gọi là chứng Phế tê(6) hàn nhiệt, nguyên nhân của bệnh này là bởi say sưa rồi dâm dục.

Khi mạch thanh(5) hiện thì huyền trường, ở vùng hai hông sườn và chẻn vừng có chứa hơi, gọi là chứng Can tê(6), nguyên nhân của bệnh này là nhiễm khí hàn thấp cùng với bệnh sán(7) đồng loại, thắt lưng đau, chân lạnh, đầu nhức.

Khi mạch huỳnh(5) đến to mà hư, thế là trong bụng có chứa hơi có triệu chứng khí khuyết(8), gọi là chứng khuyết sán(7), bệnh nầy không phân nam nữ, nguyên nhân của nó là khi tay chân đổ mồ hôi nhiều quá gặp phải gió nhiễm vào.

Khi mạch hắc(5) hiện thì ở trên cứng mà to, ở vùng dạ dưới có chứa hơi, gọi là chứng Thận tê(6), nguyên nhân của bệnh nầy là bởi trầm mình trong nước lạnh lâu quá hoặc nằm chỗ ướt át khí lạnh của nước nhiễm vào.

GIẢI

Đoạn nầy bao gồm cả tinh thần “sắc mạch” của toàn thiên trong cây thước âm dương 5 hành, để ý thức khái quái về môn khám phá con người, hầu dọn đường cho tất cả những thiên sau, mà gốc rễ của nó vẫn không rời tinh thần của bao nhiêu thiên trước.

Hai chữ “vả chăng” là một tư thế để tỏ ra câu chuyện tạm ngừng giây lâu lại nói tiếp.

Tất cả những cái có bên trong con người đều có tướng hiện ra bên ngoài; đây là một định lý. Vậy hiện bằng cách nào? Hoặc ứng hiện ở mạch, hoặc ứng hiện ở khí tượng, hoặc ứng hiện ở tướng, ở âm thanh, ở sắc diện v.v..

Con người là một sinh vật sống có nhiều khả năng nhất kể cả khả năng tốt, khả năng xấu, khả năng biến hóa và khả năng rắc rối. Cho nên tất cả những công cuộc khám phá, kể cả khám phá con người, không thể có một kẻ nào khác hay một thứ máy móc nào khác hơn con người mà có thể thay thế được. Do đó nếu chúng ta có một tay thước để áp dụng tất cả điều kiện ứng hiện nói trên, tức là ta đã kiến thiết một nền tảng khám phá khá vững chãi rồi đó.

Đã là một sinh vật sống, giàu khả năng biến hóa, lại là cùng chung một guồng máy bao la. Thế tất những tướng ứng hiện ra bên ngoài chẳng qua cũng chỉ là những hiện tượng phải hoàn toàn lệ thuộc vào guồng máy chung của thiên nhiên mà biến hóa. Dùng một cái máy biến hóa vô cùng linh động để theo dõi một cái máy biến hóa, là một việc làm vô cùng hợp lý, tuyệt đối hợp lý.

Chữ “sắc” với chữ “mạch” ở nơi đây giá trị tương đương với 4 chữ “vọng, văn, vấn, thiết” của những nơi khác.

Muốn giải quyết một sự vật gì lẽ tất nhiên là trước phải biết rõ sự vật ấy. Muốn biết rõ không gì hơn khám phá. Nếu nền tảng khám phá không vững chãi thiếu linh động, thiếu chu tất, thì cuộc khám phá không thành. Nếu khám phá không thành thì không thể có vấn đề giải quyết, chỉ có vấn đề đập nhẹp để đó mà thôi. Chính vì thế nên mới có câu mở đầu của đoạn chánh văn nầy.

Nói “khi mạch xích hiện v.v.” tức là muốn nói hệ thống “sắc mạch” của hành Hỏa thuộc về tạng Tim, khi biến động ứng vào mạch cổ tay, vào bộ Thốn bên trái bằng cách vừa mau vừa cứng, đó là hiện tượng mạch vừa nội thương vừa ngoại cảm. Nguyên do là bởi tư lự nhiều quá, làm cho tạng Tim và tạng Tỳ bị hao tổn, rồi tà khí bên ngoài mới có cơ xâm nhập, làm cho khí ở lồng ngực vùng Tim đình đốn không lưu thông và có triệu chứng không muốn ăn. Vì thế nên gọi là chứng Tâm tê. Thế là đây là một trường hợp bình thường vốn mắc phải bệnh Tâm Tỳ, rồi cộng thêm bệnh ngoại cảm.

Nói “khi mạch bạch hiện v.v.” tức là muốn nói hệ thống “sắc mạch” của hành Kim thuộc về tạng Phổi, khi biến động ứng vào mạch cổ tay, vào bộ Thốn bên phải bằng cách vừa mau vừa nổi, trên hư dưới thiệt, tinh thần hoảng hốt, đó là hiện tượng mạch nội thương biến sanh triệu chứng nóng lạnh như là ngoại cảm. Nguyên do là bởi say sưa rồi dâm dục, làm cho hệ thống từ Thận lên Phổi bị tổn hao mà khí của tạng Phổi bị đình đốn, lồng ngực như bị bế tắc, hơi thở suyễn mệt, nên gọi là chứng Phế tê hàn nhiệt.

Nói “mạch nổi” nghĩa là động mạch cổ tay sờ vào thấy nổi lên mặt da hơn bình thường. Nói “trên hư dưới thiệt” tức là càng đè xuống càng thấy rõ, càng nhớm tay lên càng thấy mờ.

Tạng Phổi đã là cái nón úp lên tạng Tim, là cơ quan cung cấp khí dưỡng cho Tim, mà cũng là nguồn trên của Thận vì Kim sanh Thuỷ. Con người khi uống rượu vào, vì sức bốc nhẹ của rượu đưa xốc lên Tim nung gấp ra mặt da, làm cho phần lạc, phần vi ti huyết quản ở mặt da bị căng thiệt mà bên trong nội tạng phải thiếu. Trong khi đó người ta lại dâm dục, phần tinh lực bị bài tiết, phần khí phải hao tán đi, làm cho tạng Phổi tự nhiên một mặt phải gánh lấy hơi rượu thừa, một mặt sinh lực bị chùn lại đánh thốn trở về tạng Tim; do đó nên mới tạo thành tinh thần hoảng hốt, hơi thở mất thế nối tiếp mà sanh ra hư suyễn, mặt da mất thế quân bình mà sanh ra nóng lạnh. Thế là một trường hợp Phổi bị tổn thương do say sưa rồi dâm dục gây nên.

Nói “khi mạch thanh hiện v.v.” tức là muốn nói hệ thống “sắc mạch” của hành Mộc thuộc về tạng Gan, khi biến động ứng vào mạch cổ tay, vào bộ Quan bên trái bằng cách huyền trường. Thế là vùng chẽn vừng hai bên hông sườn khí không lưu thông, thắt lưng đau, chân lạnh, đầu nhức. Nguyên do là bởi nhiễm phải khí hàn thấp cùng một tánh cách như bệnh sán, vì làm đình đốn trở ngại cho tạng khí của Gan, cho nên gọi là chứng Can tê.

Mạch “huyền” nghĩa là mạch hiện dưới ngón tay như sợi dây đang đánh có hiện tượng bên trái bên phải xoắn nhau. Còn “trường” nghĩa là dài, tức là thấy cả ba bộ suốt nhau như một cái đũa. Và huyền mà trường còn có nghĩa khi đè xuống thấy ba bộ căng thẳng liền nhau, nhưng khi nhớm lên còn thấy có hiện tượng như đầu nhọn hình tam giác (r) nhô lên ở giữa đầu ngón tay. Nói “vùng chẽn vừng và hai bên hông sườn có chứa hơi” tức là để ám chỉ cho vùng địa phận của Gan. Nói “bởi nhiễm khí hàn thấp”, tức là khí hàn thấp xâm phạm vào làm cho tổ chức hệ thống của Gan biến động, mà Tây y ngày nay thường gọi là Gan yếu. Chứng nhức đầu ở đây thuộc về hệ thống Túc Khuyết âm. Còn nói chân lạnh tức là ý muốn nói hàn thấp luôn luôn nhiễm vào bên dưới trước. Chứng thắt lưng đau ở đây, tức là hệ thống của tạng Thận cũng bị bệnh lây. Thế là đây là một trường hợp vì nhiễm khí hàn thấp xâm phạm vào Gan và Thận mà sanh bệnh vậy.

Nói “khi mạch huỳnh hiện v.v.” tức là muốn nói hệ thống “sắc mạch” của hành Thổ thuộc về tạng Tỳ, khi biến động ứng vào mạch cổ tay, vào bộ Quan bên phải bằng cách to mà hư v.v..

Nói mạch to mà hư, tức là hiện tượng biến của mạch hoãn của hiện tượng mạch lơi, thuộc về mạch của hành Thổ, đặt tay vào tuy thấy to nhưng đè lần vào thì lại thấy mềm lơi bở, nghĩa là ngược lại với huyền trường. Thế là ngôi chính của nó ở hữu Quan. Vì vùng bụng có chứa nhiều hơi, cho nên nói có khí khuyết. Nguyên nhân của trường hợp nầy là bởi khi tay chân đồ mồ hôi nhiều quá, rồi nhiễm phải gió, dù nam hay nữ kết quả cũng thế thôi; do đó nên mới nói: dù phụ nữ cũng vậy. Vì bụng bị căng hơi mà làm thành triệu chứng khuyết nghịch, triệu chứng sán; cho nên gọi là chứng khuyết sán. Đây là một trường hợp của hệ thống Tỳ Vị bị gió xâm nhập mà làm thành bệnh vậy.

Nói “khi mạch hắc hiện v.v.” tức là muốn nói hệ thống “sắc mạch” của hàn thuỷ thuộc về tạng Thận, khi biến động ứng vào mạch cổ tay, vào hai bộ Xích bằng cách ở trên cứng mà to…

Nói mạch trên cứng mà to, tức là mạch thiệt, đè tay vào thấy có hiện tượng kết cứng. Hai bộ Xích là để khám biết sự biến động từ rún trở xuống chân, khi thấy hiện tượng mạch nầy tức là ở dạ dưới vùng âm bộ khí không lưu thông. Sở dĩ có triệu chứng và mạch như thế, là bởi trầm mình trong nước lạnh lâu quá hoặc nằm chỗ lạnh ướt, khí hàn thủy xâm phạm vào hệ thống của tạng Thận; nên gọi là chứng Thận tê. Vì vùng dạ dưới và âm bộ thuộc về khu vực của Thận, cho nên ở đó hiện triệu chứng rõ rệt. Đây là trường hợp tạng Thận bị nhiễm khí hàn thuỷ mà sanh bệnh.

Nhìn suốt đoạn nầy ta thấy mở đầu một câu bao quát cả sắc mạch thật là khít khao, nhưng trong đây vẫn đặt nặng vấn đề mạch mà phần khí sắc sống chết sẽ nói hết ở đoạn sau.

Nói sắc mạch, rồi nói tê; tuy rằng có một hệ thống của tạng Tỳ không dùng chữ “tê”, nhưng sự thiệt bên trong vẫn ứng hợp với tinh thần của tận tự đầu thiên thứ tư và quan hệ đến mấy thiên sau trong vấn đề 8 thứ gió, 5 thứ tê. Chỗ nầy độc giả hãy lưu tâm đến chữ “tê” trong phần chú thích, đừng nên sơ hở, đừng hiểu chữ “tê” theo nghĩa thông thường, thì mới khỏi bị sai lạc. Nghĩa là tinh thần luận giả không bao giờ lìa tay thước Dịch lý âm dương 5 hành 8 hướng v.v. để mà lập luận, và để giải quyết cho vấn đề ngũ quyết ở đoạn thứ 9 vậy.

ĐOẠN 12

PHIÊN ÂM

Phàm tướng ngũ sắc chi kỳ mạch, diện huỳnh mục thanh, diện huỳnh mục xích, diện huỳnh mục bạch, diện huỳnh mục hắc, giai bất tử dã.

Diện thanh mục xích, diện xích mục bạch, diện thanh mục hắc, diện hắc mục bạch, diện xích mục thanh, giai tử dã.

DỊCH

Đại phàm quan sát 5 sắc tướng khi có bệnh, hễ thấy sắc mặt vàng mà tròng mắt xanh hoặc đỏ hoặc trắng hoặc đen đều là khí sắc sống.

Nếu thấy sắc mặt xanh đi đôi với tròng con mắt đỏ hoặc đen; hoặc sắc mặt đỏ, đen đi đôi với tròng con mắt trắng hoặc xanh là khí sắc chết.

GIẢI

Đoạn nầy nối tiếp với đoạn trên để dứt khoát phần lược luận về sắc mạch của cuối thiên, nhưng thiên trọng hẳn về phần khí sắc.

Con người vốn là hồi tụ của bao la, mà cũng là tướng địa cầu thu hẹp lại. Địa cầu nầy sở dĩ được sanh sôi phồn thịnh, là do cách cấu tạo của không gian thời gian được đầy đủ âm dương 6 khí 5 hành, mà hành Thổ là do Kim, Mộc, Thuỷ, Hỏa âm dương giao hoà hiện ra. Màu vàng tuy là màu của Thổ, nhưng sự thật là màu pha trộn của xanh, đỏ, trắng, đen. Khí của hành Thổ tuy là khí ẩm thấp, nhưng sự thật là phong, hoả, táo, hàn giao nhau pha trộn mà ra. Bởi vậy nên trên địa lý, mặt đất nơi nào có nhiều mầu mỡ, thường là có màu mỡ gà, và giàu khí thấp thổ, mà khí hậu cũng thường ấm áp. Trái lại địa lý nơi nào khí Thổ nghèo nàn thì đất đai cằn cỗi, con người hốc hác. Thế là khí Thổ là khí sanh, chỗ nào không có mặt khí Thổ là không có sanh khí. Cũng chính vì thế mà những vùng ráo lạnh quá độ chỉ phù hợp với một số ít sinh vật to lớn, mà những con vật nhỏ không thể sống được. Ngược lại nếu khí Thổ lên đến ẩm thấp lầy lụa thái quá, thì lại là môi trường phồn thịnh cho những con vật li ti, mà con người cũng theo đó dễ sanh bệnh tật. Tuy nhiên dù sao chăng nữa khí Thổ vẫn là nền tảng của sinh cơ. Khí thế của hoàn cảnh bên ngoài như thế, lẽ tất nhiên vào trong con người cũng không thể khác hơn.

Tạng Tỳ thuộc về thấp Thổ, Vị là táo Thổ, màu vàng thuộc về tạng Tỳ, Vị khí là mạch sống. Con mắt tuy là tinh hoa của bộ óc, nhưng phải mượn khuôn mặt làm nền tảng. Khuôn mặt vừa là cửa của tinh thần, lại cũng là trọn cả một con người. Do đó mà dùng khí sắc của khuôn mặt đem so sánh với khí sắc của tròng mắt. Phần con mắt sao thì sao, nhưng nếu nền tảng của khuôn mặt có lồng khí sắc của màu thổ, tức là thuận với cái thế nền tảng mà cũng là thuận với cái thế vị khí. Cho nên dù tròng con mắt xanh, đỏ, trắng hay đen cũng đều là khí sắc có thể sống. Ngược lại nền móng không vững, vị khí không có nên mới có hiện ra mặt hoặc xanh, đỏ hay đen, mà tròng mắt hoặc đỏ, trắng, đen, xanh nên biết là khí sắc có thể chết.

Nhưng thử hỏi: về khí sắc sống, nền khuôn mặt màu vàng tại sao không có điều kiện tròng con mắt vàng? Về khí sắc chết tại sao khuôn mặt không có màu trắng và tròng con mắt cũng không có màu vàng? Nếu trọn hết đoạn nầy là trình bày một sự thực dĩ nhiên như thế, thì hai câu hỏi vừa được nêu ra để làm đầu đề để tìm học, tất nhiên là đầu đề chung để chúng ta cùng nhau nhận xét. Mời độc giả suy tư.

BÌNH

Trong nghệ thuật cạm bẫy, tôi chỉ thấy người ta thường dùng con voi để dụ con voi, con cò để gạt con cò, con quốc để gạt con quốc, chớ chưa hề thấy dùng con gà để nhử con cò, dùng con vịt để gạt con quốc bao giờ.

Tôi cũng chỉ thấy người ta dùng con người để theo dõi con người, chứ chưa hề thấy dùng con chó, con trâu hay con gà để theo dõi một con người.

Trong giai đoạn Hoa Nhật chiến tranh, tổ chức trinh thám Nhật sang Trung Hoa bắt cóc trẻ con mới nở mang về nước Nhật chăm sóc nuôi dưỡng; đến khi trưởng thành đánh lạc hướng tinh thần huyết thống, rồi huấn luyện trinh thám thật tinh vi, để thả về Trung Hoa làm việc trong tổ chức gián điệp. Tâm địa sâu độc ấy của người Nhật chẳng qua cũng chỉ là xây dựng trên nguyên tắc đồng loại mà thôi.

Có một ngôi nhà hoang có nhiều ma quái, người ta truyền khẩu nhau rằng: trong nhà ấy có một hồ ly tinh ban đêm thường hiện ra phá rối, không ai dám ở. Có mấy người bạo dạn hiếu kỳ mang trà bánh, đêm đến nấu nước pha trà, ăn uống vui chơi ngâm thơ đàn địch. Hồ ly thấy vui thích quá, bèn hiện về xin nhập cùng bọn vui chơi. Trong đám có người nêu lên vấn đề sợ, để hỏi ý kiến chung xem mỗi người sợ thứ gì nhất. Kẻ nói sợ ma, người nói sợ quỷ, người nói sợ cọp, người nói sợ hồ ly. Khi hỏi đến hồ ly, thì hồ ly đáp: “Tôi chỉ sợ hồ ly”. Khách hỏi: “Vì sao thế?” Hồ ly bảo: “Chỉ có đồng loại mới biết rõ nhau, mới có sự tàn hại nhau sâu độc. Các ông có thấy không? Có bao giờ ai dùng con cò để nhử con quốc đâu! Do đó nên tôi chỉ sợ hồ ly”. Tất cả nghe thế đều hoan nghinh. Thế mới biết: chỉ có đồng loại mới hiểu nhau rõ. Đây là một định lý.

Trên mặt đất nầy chỉ có con người là giàu khả năng nhất, rắc rối nhất và cũng chỉ có bộ máy người là tinh vi nhất, nhiệm mầu nhất, linh động nhất. Đây quyết định là một việc hiển nhiên.

Thông qua các định lý, đọc đoạn chánh văn trên, nhìn về cuộc sống hiện tại. Chúng tôi không khỏi xảy ra một điều ngờ: đang trong một thế kỷ mà loài người tự cho là một giai đoạn lịch sử khoa học tiến bộ đến cực thịnh; về phương diện trinh thám gián điệp, người ta đang tìm cách áp dụng những thứ máy móc để theo dõi con người; về phương diện khoa học chỉ huy, người ta đang nghĩ áp dụng phương pháp dùng máy móc để chỉ huy con người; về phương diện y khoa, người ta cũng đang tận lực để áp dụng máy móc thay thế cho ông thầy thuốc. Ta hãy thử nghĩ trước đây 5-6 ngàn năm mà con người đã biết áp dụng phương pháp đồng loại, cũng như dùng một thứ máy móc linh thiêng để mà khám phá một thứ máy móc linh thiêng mà tất cả chúng ta ngày nay đa số trong vô tình tuy không nói ra lời, nhưng vẫn xem là một việc làm vô cùng lạc hậu. Thế mà hiện nay chúng ta đang áp dụng một phương pháp dùng những cái máy vô tri chết cứng, để mà khám phá một thứ máy linh thiêng. Thế thì chúng ta ngày nay là văn minh hay lạc hậu? Và người xưa là lạc hậu hay văn minh? Và thế nào là văn minh? Thế nào là lạc hậu? Thế nào là khoa học? Thế nào là không khoa học? Mời độc giả hãy trầm tư.

Lời giải toàn thiên

Tên thiên gọi là “Ngũ Tạng Sanh Thành”, nhưng kỳ thực là từ “Lục Tiết Tạng Tượng” mà mở màn đi vào kỹ thuật áp dụng của vọng văn vấn thiết, hay nói một cách khác hơn là mở lối khám phá cho môn sắc mạch, hầu dọn đường đi sâu vào kỹ thuật trị liệu của y khoa để chứng thực con người.

Tổng kết toàn thiên tất cả có 12 đoạn:

– Đoạn 1: là bắt hệ thống tạng phủ với phần xác thân bên ngoài theo 5 hành để ăn khớp với 5 vận tương sanh tương khắc.

– Đoạn 2 – 3: 5 vị theo ăn uống rất cần cho sở thích của 5 tạng, nhưng thái quá thì lại xâm phạm vào luật tương khắc của 5 hành.

– Đoạn 4 – 5: Hệ thống khí sắc theo 5 hành ứng vào con người, nếu tươi nhuận thì sống, khô héo thì chết.

– Đoạn 6: Hệ thống hóa tạng phủ, xác thân, màu sắc, khí vị vào 5 hành.

– Đoạn 7: Tương quan sở thuộc của mạch, tủy, gân, huyết, khí trong một con người sống.

– Đoạn 8: Huyết khí dinh vệ tùy thuộc vào trật tự thiên nhiên và sanh hoạt của con người, do đó sanh hoạt cũng có thể làm xâm phạm vào luật trật tự mà gây tai hại.

– Đoạn 9: Nền tảng của nghệ thuật châm cứu, là dựa vào sự thật toàn thân có những huyệt để cho phần khí vệ thở ra. Và nền tảng của phương pháp sắc mạch phải dựa vào định luật âm dương của 5 hành.

– Đoạn 10: Hệ thống hóa triệu chứng bệnh ở kinh, nếu nặng sẽ vào tạng để kiến thiết cho nền tảng về môn bệnh ngoại cảm.

– Đoạn 11: Sắp hệ thống sắc mạch vào khuôn thước 5 hành, để lập thành một môn khám phá con người.

– Đoạn 12: Lập pháp so sánh khí sắc của nền mặt và của mắt để định sống chết.

Nhìn vào thiên và đoạn, trên bề mặt ngôn ngữ văn tự vốn là thế; nhưng nếu ta nhập thần vào chiều sâu hun hút ở ngoài lời, ta mới thấy cả một tòa lâu đài 9 tầng 81 ngăn không những không thể tách rời mà nhìn được, mà lại còn dù trong một ngăn của một căn phòng cũng vẫn đủ cả bóng dáng của một tòa lâu đài 9 tầng nữa. Thế là dù cho thiên thứ mười nầy vốn là cái đuôi của thiên thứ 9, nhưng trong đó vẫn gói tròn cả một kho tàng dịch lý. Nếu chúng ta chịu khó thâm tâm tìm học, thì quyết định sẽ có ngày bất chợt thấy suốt cả toà lâu đài của NỘI KINH vậy. Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là chứng thực Dịch lý ở nơi mình, giáp mặt với bao la trong thấu suốt.

Lời bình toàn thiên

Ví dụ: Tôi ngồi trên một con tàu đang vượt biển, vì có chút xích mích với một số hành khách trên tàu, bỗng dưng tôi nảy ra ý nghĩ lấy búa đập vỡ lườn tàu, để trả thù. Vậy mọi người nên xem tôi là khôn hay ngu?

Nếu tôi không biết gì hết về chính con người của tôi, rồi một hôm tôi ngồi nhìn trời thấy lưng trời khum khum không biết trên đó Thượng đế chế tạo bằng chất gì. Nếu một mai có xảy ra biến cố trời sập, thì tai họa này lấy gì chống đỡ. Rồi bỗng dưng tôi hoảng hốt chạy kêu gào lối xóm ầm lên, hô hào mọi người hãy kẻ công người của góp vào để cùng tôi xây dựng một chiến dịch chống đỡ. Tất cả mọi người đều phớt tỉnh làm ngơ, tức quá tôi nghĩ bụng rằng: sao người ta lại dại khờ đến thế?! Thế là tôi khôn hay ngu?

Chỉ là một thứ hiện tượng li ti xuất hiện sau khi một cuộc dậy men trên một quả bóng đang bay lơ lửng giữa một bầu không gian vô định. Thế mà đoàn người li ti ấy một mặt chẳng biết gì hết về chính con người của mình, chỉ nghĩ cách tàn hại lẫn nhau bằng những vũ khí có thể đập vỡ tan quả bóng. Vậy mà một mặt khác họ đang hô hào kêu gọi nhau để nhóm họp một đại hội nghị quốc tế, hầu lo liệu công cuộc chống đỡ lại cái thế già nua xuống dốc của quả bóng. Thái độ đó, hiểu biết đó của loài người chúng ta ngày nay là khôn hay ngu?

Chẳng có ai ngờ, không mấy ai lưu tâm đến chính con người của mình trước. Thế mà có hơn 100 quốc gia hùng cường cấp tiến trên thế giới mới vừa rồi đã tổ chức một khoáng đại hội nghị suốt 12 ngày, hầu hoạch thảo một chiến lược chống đỡ sự già nua của địa cầu, để lo sinh tồn cho nhân loại. Dự chi 5 năm đầu mỗi năm hằng 40 triệu Mỹ kim; thế mà vấn đề phá hoại địa cầu, vấn đề đói rách vẫn được đá hất qua một bên, và còn được coi đó là một thái độ giải quyết vấn đề chậm tiến. Ôi ! Họ hiểu cái gì? Họ đang lo cho ai? Họ khôn đến cỡ nào? (Rút trong “chuyện mỗi ngày” của Bút thần thứ bảy ngày 10 tháng 6 năm 1972)

Download Ebook Hoàng Đế nội kinh (Quyển II) Miễn Phí, Tải Sách Hoàng Đế nội kinh (Quyển II), Đọc Ebook Hoàng Đế nội kinh (Quyển II) Online, Ebook Hoàng Đế nội kinh (Quyển II) Cho Điện Thoại, Tải Ebook Hoàng Đế nội kinh (Quyển II) Bản .prc .pdf .doc .epub .txt, Tải Ebook Hoàng Đế nội kinh (Quyển II) Cho Android - Iphone - IOS, Download Hoàng Đế nội kinh (Quyển II) Free Ebook, Xem Sách Hoàng Đế nội kinh (Quyển II) Trực Tuyến Online…

[tg_facebook_comments]